Thứ Ba, 12 tháng 12, 2017

BÁT PHÁP VÀ CHÂM CỨU

BỔ PHÁP

a-Đại Cương
Bổ pháp thường dùng trong trường hợp hư nhược của Khí, Huyết, Tân dịch, Tạng, Phủ, Âm, Dương.
Bổ pháp bao gồm các phương pháp: Nâng cao (thăng đề) dương khí, phục hồi (hồi nạp) dương khí, kích thích dương khí, điều động nguyên khí, hộ dưỡng âm khí, hóa sinh âm huyết, hành khí hoạt huyết, điều hòa ngũ tạng, tẩy rửa lục phủ, làm mạnh gân xương, bổ não tủy...
b-Chọn Huyệt Theo Bổ Pháp
Thường chọn huyệt có tác dụng bổ như:
+ Bá Hội, Đàn Trung, Khí Hải, Túc Tam Lý để bổ khí, thăng khí.
+ Tam Âm Giao, Huyết Hải để bổ dưỡng âm huyết.
Nếu cơ thể người bệnh quá suy nhược, không đáp ứng với châm thì nên chuyển sang dùng phương pháp cứu cho thích hợp hơn.
c-Cách Châm 
Thiên ‘Ly Hợp Chân Tà Luận’ ghi: “Hoàng Đế hỏi: “Chứng bất túc thì dùng phép bổ như thế nào?
Kỳ Bá đáp: Phép bổ trong châm thích trước tiên là tìm ra huyệt vị, để cho kinh khí phân bố. Sau đó lại đè nhẹ lên da, búng vào huyệt vị để cho bệnh nhân tập trung chú ý vào đó, rồi bấm đúng huyệt vị mà châm ngay kim vào, đợi đến lúc khí mạch lưu thông thì rút kim ra. Lúc đó tay phải rút kim, tay trái đè ngay vào lỗ kim để cho chân khí không tiết ra. Phương pháp châm kim là khi bệnh nhân thở ra gần hết thì châm kim vào, yên tĩnh đợi khí đến, lưu kim 1 lúc, không để ý đến thời gian lâu hoặc mau. Khi đắc khí rồi, phải khéo léo giữ gìn, đợi đến lúc thở hơi vào thì rút kim ra. Như vậy thì khí không tiết ra ngoài. Sau khi rút kim rồi, bịt kín huyệt lại để cho khí lưu lợi ở trong, vinh vệ không tiết ra ngoài thì gọi là Bổ” (TVấn 27, 13-14).
Trong Bổ pháp thường dựa trên 2 nguyên tắc :
+ Nguyên Tắc 1: Hư Tắc Bổ.
Hư phần nào, hư ở đâu, bổ ngay vào chỗ đó.
Theo nguyên tắc này, có thể chọn :
- Huyệt Nguyên vì huyệt Nguyên là nơi kinh khí tập trung mạnh nhất của mỗi đường kinh.
- Huyệt liên hệ với tạng bệnh, trên cùng đường kinh.
Thí dụ: Tạng Phế suy, Phế chủ Kim, Châm bổ huyệt Kinh Cừ (Kinh Cừ là Kinh Kim Huyệt của kinh Phế).
+ Nguyên Tắc 2: Hư Bổ Mẫu (Nguyên tắc tương sinh).
Theo nguyên tắc này, khi 1 tạng phủ hoặc 1 hành nào đó của đường kinh bị suy yếu quá, nơi đó đang bị suy yếu, không thể lấy khí ở đó để bù đắp vào chỗ suy yếu. Do đó, phải lấy khí từ cơ quan Tạng Phủ hoặc hành sinh ra (Mẫu) chỗ đang bị bệnh (Tử). Thí dụ: Bệnh lao phổi, Phế bị suy yếu.
+ Bổ cho Tỳ vì Tỳ Thổ sinh Phế Kim.
+ Trên cùng đường kinh: Phế thuộc Kim, bổ huyệt Thổ vì Thổ (Mẫu) sinh Kim (Tử). Chọn huyệt Thái Uyên (vì Thái Uyên là Thổ huyệt của kinh Phế)...

HÃN PHÁP

a. Đại cương

Hãn pháp được lập ra để chống lại với ngoại tà xâm nhập vào cơ thể. Khi tà khí còn ở bì mao, tấu lý và kinh lạc sẽ làm cho kinh lạc không thông, Phế khí bị trở ngại. Thiên ‘Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận’ ghi: “Tà khí còn ở bên ngoài, nên phát hãn để tiết nó đi” (TVấn 5, 122), như vậy, hãn pháp là 1 phương pháp làm cho tà khí phát tiết ra ngoài.
b- Chọn Huyệt Theo Hãn Pháp

Có thể chọn theo 3 nguyên tắc sau:
1) Thường Chọn Huyệt Trên Kinh Dương: vì hãn pháp thường liên hệ với ngoại tà ở biểu.Kinh dương chủ phần biểu, vì vậy, huyệt trên kinh dương thường có tác dụng thông dương, hành khí, dễ giải tà khí ra khỏi biểu. Ngoài ra, nên chọn huyệt trên mạch Đốc để làm cho dương khí mạnh lên, tăng cường sức giải biểu.
2) Theo Đặc Điểm Của Tà Khí: vì phong tà thường ở phần trên , do đó thường chọn huyệt ở vùng đầu để phát huy tác dụng khu phong, tán hàn của huyệt vùng đầu cổ. Thí dụ: Chứng Thái dương phong hàn, chọn huyệt Thiên Trụ. Thiếu dương phong hàn chọn huyệt Phong Trì. Trên Đốc mạch thì chọn các huyệt như Phong Phủ, Đại Chùy, Đào Đạo.
3) Dựa Theo Biện Chứng: Phế chủ biểu, vì vậy thường chọn huyệt trên kinh Phế. Thí dụ: Chứng Phát sốt, lấy chứng trạng kinh lạc làm chủ, chứng trạng của Phế làm phụ, có thể chọn dùng huyệt Ngư Tế. Nếu lấy chứng trạng Phế làm chủ, có thể chọn Liệt Khuyết.
c-Phối Huyệt

1* Phối huyệt giữa các huyệt của 3 Kinh Dương với Đốc Mạch, Thí dụ: Phối Phong Trì + Phong Phủ. Phương pháp này thường dùng khi ngoại tà xâm phạm kinh lạc.
2* Phối huyệt kinh Phế với huyệt kinh Thủ thiếu âm. Thí dụ: dùng Ngư Tế (P.10) + Thông Lý (Tm.5). Phương pháp này thường dùng khi ngoại tà xâm nhập Phế. Vận dụng quan hệ mật thiết giữa Tâm-Phế đều ở thượng tiêu, kích thích thượng tiêu để đạt đến mục đích giải biểu, trừ tà.
3* Phối huyệt trên - dưới của kinh Dương minh: dùng Khúc Trì (Đtr.11), Hợp Cốc (Đtr.4) [Dương minh trên] + Túc Tam Lý (Vi.36) [Dương minh dưới]. Phương pháp này thường dùng khi tà nhập lý, để phát huy đầy đủ tác dụng tả tà mạnh của kinh Dương minh.]
Phương pháp phát hãn, sử dụng đúng mức còn có khả năng ‘Tuyên Phế bình suyễn’, ‘Phát hãn, lợi thủy’, ‘Thông kinh hoạt lạc’, vì vậy, hãn pháp không phải chỉ là 1 phương pháp điều trị mang tác dụng ra mồ hôi

HỢP PHÁP

a. Đại cương

Là phương pháp phối hợp Âm Dương, dùng trong trường hợp âm dương không tương hợp nhau, 1 bên qúa nhiều, 1 bên lại quá suy... gây nên hiện tượng Tâm Thận bất giao, hư dương vượt ra ngoài, khí huyết không thông, Can Tỳ không điều, kinh lạc bị ngăn trở, chứng quan cách (âm dương không tương thông).. nên dùng Hợp Pháp. Thiên ‘Căn Kết’ ghi:”Điều hòa được Âm với Dương, tinh khí mới sáng tỏ, mới hòa hợp được hình và khí, khiến cho thần khí giữ vững ở bên trong” (LKhu 5, 81).
b- Chọn Huyệt Theo Hợp Pháp

1-Chọn Huyệt Cùng Trên Kinh Âm Dương hoặc Tạng Phủ Âm Dương hoặc vùng Âm Dương để điều chỉnh âm dương, làm cho âm dương luôn hòa hợp
cùng nhau. Thí dụ:
+ Khí huyết bất hòa: chọn Túc Tam Lý (kinh dương) phối hợp với Tam Âm Giao (Kinh âm) [chọn huyệt theo kinh].
+ Tâm Thận bất giao: chọn Tâm Du phối hợp với Thận Du để điều hòa Tâm hỏa và Thận âm (Chọn huyệt theo Tạng).
+ Thận hỏa bất túc: chọn Mệnh Môn (vùng lưng = dương) phối hợp với Thần Khuyết (Vùng bụng = âm) [Chọn huyệt theo vùng].
2) Chọn huyệt tại vùng đối xứng âm dương của cơ thể: Thí dụ:
+ Trị Can Tỳ không hòa: chọn Dương Lăng Tuyền (ngoài) với Âm Lăng Tuyền (trong).
+ Trị bàn chân lệch vào trong hoặc ngoài: chọn Chiếu Hải (trong) và Thân Mạch (ngoài).
+ Cách phối huyệt Bá Hội + Gian Sử hoặc Nhân Trung + Trung Xung cũng xếp vào loại này vì xét theo cơ thể thì trên thuộc dương, dưới thuộc âm.
+ Cách chữa ‘Đại Tiếp Kinh’, chọn 12 Tỉnh huyệt phối hợp với nhau, châm theo thứ tự 1 kinh dương, 1 kinh âm để điều trị chứng liệt nửa người sau khi bị trúng phong (tai biến mạch máu não...) nhằm nục đích giao thông kinh khí của các kinh Âm Dương, cũng có thể xếp vào loại Hợp Pháp này (Châm Cứu Xử Phương Học).

ÔN PHÁP

a. Đại cương
Ôn pháp thường dùng trong các chứng hàn thấp ngăn trở, dương khí hư suy hoặc dương khí suy kiệt.
b- Chọn Huyệt Theo Ôn Pháp
Thường chọn các huyệt có tác dụng tráng khí, bổ hỏa như Khí Hải, Quan Nguyên, Mệnh Môn.
Vì ôn pháp không tách khỏi tác dụng ôn nhiệt, vì vậy, nên phối hợp với phép cứu để tăng tác dụng trị liệu. Khi châm thường dùng phương pháp Thiêu Sơn Hỏa.


TẢ PHÁP

a. Đại cương

Tả pháp thường dùng trong các bệnh do khí bị trở ngại gây ra biến chứng. Tả pháp thường có tác dụng thông, khai, tán, giáng. Nếu tà khí quá thịnh, có thể dùng phép châm ra máu. Nếu lúc đó chính khí của bệnh nhân đang hư yếu mà phải dùng tả pháp thì có thể dùng phương pháp bổ. Thí dụ: bệnh nhân bị mất ngủ, thần kinh suy nhược, thuộc loại mất ngủ do hư phiền ảnh hưởng đến Tâm, sách ‘Kinh Nghiệm Phương’ của Trình-Tân-Nung chọn dùng các huyệt: Thần Môn (thông thần chí), Đại Lăng (tả Tâm hỏa), Nội Quan (thông Tâm khí), là phác đồ trị liệu thuộc loại tả pháp, nhưng khi dùng trong trường hợp này thì không thể dùng tả pháp mà phải dùng bổ pháp, nếu không thì không đạt hiệu quả mà có khi còn phản tác dụng làm cho bệnh nặng hơn. Chỉ dùng Tả pháp đối với người tương đối khỏe mạnh.
b- Cách Châm

Thiên ‘Ly Hợp Chân Tà Luận’ ghi: “Khi thở vào thì châm kim vào, khi châm không cho khí nghịch lên, sau khi châm rồi, cần yên tĩnh đợi khí, lưu châm 1 lúc không cho bệnh tà tán rộng ra. Trong khi thở vào cần vê kim, mục đích là làm cho đắc khí. Sau đó, đợi khi bệnh nhân thở ra thì rút kim ra hết, như vậy thì tà khí đều tán hết ra ngoài, gọi là phép Tả” (TVấn.27, 10-13).
Dùng Tả pháp có thể theo 2 nguyên tắc sau:
1) Thực tắc tả

+ Tạng phủ nào có dấu hiệu bệnh lý thực (thịnh) thì tả bớt trực tiếp vào Tạng Phủ đang bị bệnh đó.
Thí dụ: Tạng Tâm bệnh.
Tâm thuộc Hỏa, tả Hỏa huyệt của Tâm.
+ Theo Kinh: hành nào đó của đường kinh bị bệnh, chọn huyệt liên hệ với hành đó để tả. Thí dụ : Bệnh nhân ho ra máu do Hỏa của Phế thịnh, chọn tả hỏa huyệt của kinh Phế tức huyệt Ngư Tế (vì Ngư Tế là hỏa huyệt của kinh Phế).
2) Thực tả tử

Trong trường hợp tà khí quá thịnh, nên dùng phương pháp rút khí ở nơi đang bệnh sang tạng phủ hoặc đường kinh do tạng phủ hoặc đường kinh đó sinh ra.
Thí dụ: Hỏa của Tâm quá vượng.
+ Theo tạng Phủ : Tâm chủ Hỏa. Hỏa (Mẫu) sinh thổ (Tử), chọn huyệt Thổ của kinh Tỳ tức huyệt Thái Bạch (Ty.3).
+ Theo kinh: chọn huyệt Thổ của kinh Tâm tức huyệt Thần Môn (Tm.7).
Việc Bổ Tả được mô tả rải rác khá nhiều, chúng tôi cố gắng triển khai các trường hợp cần bổ tả theo kinh điển, chủ yếu theo Nội Kinh, để giúp ích cho người sử dụng nắm vững vấn đề, khi thực hiện sẽ không bị lúng túng hoặc lệch lạc.
Sách ‘Traité De Médecine Chinoise’ cho rằng: khi châm huyệt Bổ hoặc Tả, bao giờ cũng châm kèm với huyệt Nguyên của đường kinh đó.

THANH PHÁP

a. Đại cương

Thương pháp thường được dùng khi cơ thể bị nhiệt, hỏa. Đa số dùng trị thực nhiệt nhưng cũng có thể điều trị hư nhiệt.
b- Chọn Huyệt Theo Thanh Pháp

Thường chọn huyệt có tác dụng thông khí, đặc biệt là huyệt của kinh
Dương minh được chọn dùng nhiều hơn: Khúc Trì, Hợp Cốc...
Khi cần tả hỏa trực tiếp rhì phói hợp với các huyệt hỏa (thực tắc tả) hoặc huyệt thổ (thực tả tử) như Ngư Tế, Lao Cung, Thiếu Xung...Hoặc chọn huyệt ở vị trí của hỏa (dương) khí tụ tập.
+ Nếu hỏa tụ ở phần trên: chọn dùng huyệt Bá Hội, Thái Dương, Thượng Tinh...
+ Hỏa tụ tập ở tạng phủ: chọn dùng huyệt Du và Mộ.
Khi châm thường dùng thủ pháp Thấu Thiên Lương.
Nếu nhiệt tà đang quá thịnh, nên phối hợp phương pháp sau:
1* Dùng phép Châm ra máu: có thể chọn dùng kinh Dương minh hoặc Đại lạc. Sau khi châm xong nặn máu ra. Có thể lấy ‘máu đổi màu thì ngưng’ để làm chuẩn. Sau khi châm ra máu, thường làm cho sốt hạ nhanh hơn.
2* Dùng thủ pháp dẫn đạo: lấy 4 ngón tay của cả 2 tay đè vào vùng động mạch cổ rồi vuốt từ trên xuống dưới đến giữa huyệt Khuyết Bồn, làm nhiều lần như vậy cũng làm cho hạ sốt.
3* Nếu sốt cao mà đổ mồ hôi liên tục thì vừa chọn huyệt tại kinh túc Thái dương vừa xử dụng phép châm bổ để có thể làm cho mồ hôi cầm lại

THÔNG PHÁP

a. Đại cương

Thông pháp thường dùng để làm cho phong hàn, thấp tà đang ngưng trở, ứ trệ... được lưu thông.
b- Chọn Huyệt Theo Thông Pháp

Có thể chọn theo 3 nguyên tắc sau:
1) Chọn dùng huyệt khai khiếu, thông đạt khí cơ mạnh. Thường dùng huyệt Tỉnh làm chủ. Thí dụ: để thanh tiết nhiệt độc ở thái dương: sách ‘Ngoại Khoa Lý Lệ’ dùng: Chí Âm, Thông Cốc, Thúc Cốt, Côn Lôn, Ủy Trung (Trong đó, Chí Âm là huyệt Tỉnh của kinh Bàng quang làm chính).
Hoặc trị chứng ‘Thi Quyết’, bất tỉnh, sách ‘Giáp Ất Kinh’ dùng huyệt Ẩn Bạch (Tỉnh huyệt của Tỳ) + Đại Đôn (Tỉnh huyệt của Can)...
2) Chọn dùng Du + Mộ huyệt có liên hệ mật thiết với khí cơ của Tạng phủ: Thí dụ: lưng đau, chọn Thận du. Dạ dày đau, chọn Chương Môn.
3) Chọn huyệt tại chỗ: như mũi nghẹt, chọn Nghinh Hương. Đầu gối đau, chọn Lương Khâu...
c- Phối Hợp Huyệt

1* Phối huyệt đồng loại: Thí dụ trị bất tỉnh, thi quyết: chọn dùng Ẩn Bạch (Tỉnh huyệt của Tỳ) + Đại Đôn (Tỉnh huyệt của Can), đều là 2 Tỉnh huyệt. Hoặc trong điều trị chứng huyết cổ: sách ‘Loại Kinh Đồ Dực’ dùng huyệt Cách du, Tỳ Du, Thận Du, Gian Sử, Phục Lưu, Hành Gian, trong đó phối hợp dùng các bối du huyệt của Can, Tỳ, Thận... Phương pháp này là dùng các huyệt vị cùng loại để tăng cường sức thông đạt khí, vì vậy, đối với 1 số chứng trạng nguy cấp nào đó hoặc chứng bệnh nặng lâu ngày có thể dùng phương pháp này.
2* Phối Huyệt Tại Chỗ với Huyệt Ở Xa: Thí dụ: lưng đau, chọn dùng huyệt Thận Du (tại chỗ) + Ủy Trung và Côn Lôn (ở xa). Phương pháp này làm cho khí huyết lưu thông, thời gian tương đối dài hơn.
Tuy nhiên, khi xử dụng trên lâm sàng có thể xử dụng: Nếu bệnh ở kinh lạc, nên theo phương pháp Mậu Thích hoặc Cự Thích: Nếu bệnh ở Tạng phủ, nên chọn huyệt cùng bên để châm.
+ Ghi Chú: Thông pháp và Hãn pháp gần giống nhau là cùng đẩy tà khí ra ngoài nhưng Hãn pháp thường dùng trị ngoại tà mới xâm nhập vào cơ thể, chính khí còn mạnh, tác dụng chủ yếu là đuổi tà khí. Còn Thông pháp thì thường là tà khí lưu giữ lại, không vận hành đi cho nên khí cơ lưu thông không đều, kinh lạc lưu thông không thoải mái, trạng thái bình thường của khí cơ và kinh lạc gây ra bệnh lý, vì vậy Thông pháp không chỉ là để trừ tà khí mà còn có khả năng điều hòa khí huyết của kinh lạc, làm cho trạng thái sinh lý trở lại bình thường.

TIÊU PHÁP

*Đại cương

Tiêu pháp thường dùng trong các trường hợp khí, huyết, đờm, thực thấp đình trệ trong cơ thể, gây nên 1 số biến chứng: Thủy thủng, bỉ mãn, trưng hà, ẩm... Các loại bệnh này thường là do bệnh lâu ngày, tà khí uất kết không tan, chính khí thường bị suy yếu. Vì vậy, dùng phép tả không được mà dùng phép bổ cũng khó, chỉ có thẻ dùng phép Tiêu phải đuổi tà khí ra mà không làm hại đến chính khí. Tiêu pháp là 1 phương pháp công phá chậm, vừa đuổi tà vừa làm cho tiêu. Khi châm thường dùng phép bình bổ bình tả, đồng thời phối hợp thêm Mai Hoa Châm, gõ vào vùng da nơi bị bệnh để tăng khả năng vận hành khí huyết, giúp cho tác dụng của Tiêu pháp được hòa hoãn và liên tục. Vì các khối kết tụ đa số do âm hàn ngưng trệ, do đó, nên sử dụng phép cứu tại chỗ có khối kết giúp bệnh giảm mau hơn.
*Chọn Huyệt Theo Tiêu Pháp

Trên lâm sàng thường theo các nguyên tắc sau:
a-Chọn huyệt trên kinh Dương minh hoặc kinh Thái âm, lấy gốc của hậu thiên để điều hòa kinh lạc, khí huyết. Thí dụ: Trị ngực và bụng đau do giun, sách ‘Loại Kinh Đồ Dực’ dùng Cự Khuyết, Đại Đô, Thái Bạch (túc Thái âm Tỳ), Túc Tam Lý (túc Dương minh Vị), Thừa Sơn...
b-Chọn Du + Mộ huyệt của Tỳ Vị, lấy gôc của hậu thiên để điều hòa khí huyết, tạng phủ. Thí dụ trị bỉ khối do đờm ngưng trệ trong bụng, sách ‘Vệ Sinh Bảo Giám’ dùng huyệt Trung Quản, Chương Môn, Tích Trung. Trong đó, Trung Quản và Chương Môn là Mộ huyệt còn Tích Trung là Bối du huyệt.
c-Chọn Huyệt Tại Chỗ: như trị vú sưng, sách ‘Châm Cứu Đại Thành’ dùng huyệt Đản Trung, Du Phủ, Đại Lăng, Ủy Trung, Thiếu Trạch...[ tăng cường tác dụng thông điều khí huyết tại chỗ. Phương pháp này thường dùng trong các bệnh cấp tính



BẢNG BỔ TẢ THEO SÁCH ‘CHÂM CỨU TỤ ANH’
Kinh
Huyệt Nguyên
Huyệt Bổ
Huyệt Tả
Phế
Thái Uyên (P.9)
Thái Uyên (P.9)
Xích Trạch (P.5)
Đại Trường
Hợp Cốc (Đtr.4)
Khúc Trì (Đtr.11)
Nhị Gian (Đtr.2)
Vị
Xung Dương (Vi.42)
Giải Khê (Vi.41)
Lệ Đoài (Vi.45)
Tỳ
Thái Bạch (Ty.3)
Đại Đô (Ty.2)
Thương Khâu (Ty.5)
Tâm
Thần Môn (Tm.7)
Thiếu Xung (Tm.9)
Thần Môn (Tm.7)
Tiểu Trường
Uyển Cốt (Ttr.4)
Hậu Khê (Ttr.3)
Tiểu Hải (Ttr.8)
Bàng Quang
Kinh Cốt (Bq.64)
Chí Âm (Bq.67)
Thúc Cốt (Bq.65)
Thận
Thái Khê (Th.3)
Phục Lưu (Th.7)
Dũng Tuyền (Th.1)
Tâm Bào
Đại Lăng (Tb.7)
Trung Xung (Tb.9)
Đại Lăng(Tb.7)
Tam Tiêu
Dương Trì (Ttu.4)
Trung Chử (Ttu.3)
Thiên Tỉnh (Ttu.10)
Đởm
Khâu Khư (Đ.40)
Hiệp Khê (Đ.43)
Dương Phụ (Đ.38)
Can
Thái Xung (C.3)
Khúc Tuyền (C.8)
Hành Gian (C.2)
BIỂU ĐỒ BỔ TẢ THEO BÁT CƯƠNG
BÁT CƯƠNG
CHÂM CỨU
Âm
Châm sâu, lưu kim hoặc rút kim chậm hoặc cứu nhiều, châm ít.
Dương
Châm cạn, không lưu kim, hoặc rút kim nhanh, hoặc châm nhiều cứu ít.
Biểu
Châm cạn, hoặc cứu ít.
Châm sâu hoặc cứu nhiều.
Hàn
Châm sâu, lưu kim hoặc châm ít, cứu nhiều.
Nhiệt
Châm cạn, rút kim nhanh hoặc châm nhiều, cứu ít, hoặc châm ra máu.
Cứu nhiều, châm ít hoặc không châm..
Thực
Châm nhiều, cứu ít hoặc không cứu.
Tại Nhật Bản, Yanagiya Sorei (Liễu-Cốc-Tố-Trinh) có đề ra phương pháp Bổ Tả có cải tiến so với phương pháp Bổ Tả của Kinh Điển như sau:
* Nguyên Tắc:
1- Thực Chứng
· Châm bổ ở đường kinh khắc với đường kinh đang có bệnh thuộc thực chứng để chuyển kinh khí từ đường kinh khắc sang kinh bệnh.
· Nơi kinh bệnh, châm huyệt mang cùng tên với hành tương ứng với đường kinh dùng để khắc để có thể nhận kinh khí từ kinh khắc chuyển sang.
· Tả ở đường kinh con (tử) của đường kinh đang bị bệnh để nhận khí từ kinh bệnh sang kinh con của nó.
· Nơi kinh bệnh, châm ta huyệt cùng mang hành với kinh con của nó để chuyển khinh khí sang.
Thí dụ: đường kinh Phế đang có bệnh thuộc thực chứng.
+ Phế thuộc Kim, khắc Kim là Hỏa, vì thế chọn huyệt của đường kinh Tâm (Hỏa). Châm bổ Hỏa huyệt của kinh Tâm là huyệt Thiếu Xung (Tm.8), để chuyển kinh khí từ Tâm qua Phế. Vì Tâm là Hỏa huyệt, do đó phải chọn huyệt Hỏa của kinh Phế (mang cùng tên hành), tức là bổ huyệt Ngư Tế (P.10), để nhận kinh khí từ Tâm chuyển sang.
+ Phế Kim sinh Thận Thủy, vì vậy chọn huyệt ở kinh Thận. Thận thuộc thủy, vì vậy chọn huyệt Âm Cốc (Thủy huyệt của kinh Thận) để nhận kinh khí từ Phế chuyển sang. Thận thuộc Thủy do đó phải chọn huyệt Thủy của kinh Phế tức là huyệt Xích Trạch (P.5), để chuyển kinh khí sang kinh Thận. Các đường kinh khác cũng tương tự như vậy.
2- Hư Chứng
¨ Áp dụng nguyên tắc ‘Hư bổ mẫu’, nơi kinh bệnh, chọn hành sinh ra hành đang bị bệnh để tăng kinh khí.
¨ Bổ hành cùng tên với hành của kinh mẹ của kinh bị bệnh để chuyển kinh khí từ mẹ sang con.
¨ Tả kinh tương khắc với kinh bệnh để kinh khắc với kinh đang bệnh yếu đi không khắc kinh bệnh nữa.
¨ Nơi kinh bệnh, tả huyệt mang tên cùng hành với kinh khắc nó để hỗ trợ việc rút kinh khí của kinh khắc nó đi cho khỏi bị khắc.
Thí dụ: Cũng kinh Phế bị bệnh nhưng ở thể Hư.
+ Tỳ Thổ sinh Phế Kim vì vậy châm bổ huyệt Thái Bạch (Ty.3) là huyệt Thổ của đường kinh Tỳ để chuyển kinh khí từ kinh Mẹ (Tỳ) sang kinh con (Phế).
+ Thổ sinh Kim, nơi kinh bệnh: bổ huyệt Thổ của kinh Phế (cùng tên hành với kinh Mẹ) tức huyệt Thái Uyên (P.9) để nhận kinh khí từ mẹ chuyển sang.
+ Hỏa khắc Kim, vì vậy chọn tả huyệt của kinh Tâm là huyệt Thiếu Phủ (P.8) để Hỏa yếu đi không khắc Kim nữa.
+ Nơi kinh bệnh, chọn huyệt mang tên cùng hành với kinh khắc nó (hỏa) tức là tả huyệt Ngư Tế (P.10) để ứng với kinh đang khắc, hỗ trợ cho kinh đang bệnh mạnh lên, chống lại kinh khắc nó. Các đường kinh khác cũng tương tự như vậy
BIỂU ĐỒ HUYỆT BỔ TẢ THEO LIỄU CỐC TỐ TRINH (Nhật Bản)
Tạng Phủ
THỰC CHỨNG
HƯ CHỨNG

BỔ
TẢ
BỔ
TẢ
Phế
Thiếu Phủ
Ngư Tế
Âm Cốc
Xích Trạch
Thái Uyên
Thái Bạch
Thiếu Phủ
Ngư Tế
Đại Trường
Dương Khê
Dương Cốc
Thông Cốc
Nhị Gian
Khúc Trì
Túc Tam Lý
Dương Cốc
Dương Khê
Vị
Lâm Khấp (Túc)
Hãm Cốc
Thương Dương
Lệ Đoài
Giải Khê
Dương Cốc
Khiếu Âm
Lâm Khấp
Tỳ
Đại Đôn
Ẩn Bạch
Kinh Cừ
Thương Khâu
Đại Đô
Thiếu Phủ
Đại Đôn
Ẩn Bạch
Tâm
Âm Cốc
Thiếu Hải
Thần Môn
Thái Bạch
Thiếu Xung
Đại Đôn
Âm Cốc
Thiếu Hải
Tiểu Trường
Thông Cốc
Tiền Cốc
Túc Tam Lý
Tiểu Hải
Hậu Khê
Lâm Khấp
Tiền Cốc
Thông Cốc
Bàng Quang
Túc Tam Lý
Ủy Trung
Lâm Khấp
Thúc Cốt
Chí Âm
Thương Dương
Túc Tam Lý
Ủy Trung
Thận
Thái Bạch
Thái Khê
Đại Đôn
Dũng Tuyền
Phục Lưu
Kinh Cừ
Thái Bạch
Thái Khê
Tâm Bào
Thông Cốc
Khúc Trạch
Túc Tam Lý
Đại Lăng
Trung Xung
Lâm Khấp
Khúc Trạch
Thông Cốc
Tam Tiêu
Thông Cốc
Dịch Môn
Túc Tam Lý
Thiên Tỉnh
Trung Chử
Lâm Khấp
Dịch Môn
Thông Cốc
Đởm
Thương Dương
Khiếu Âm (Túc)
Dương Cốc
Dương Phụ
Hiệp Khê
Thông Cốc
Khiếu Âm
Thương Df
Can
Kinh Cừ
Trung Phong
Thiếu Phủ
Hành Gian
Khúc Tuyền
Âm Cốc
Kinh Cừ
Trung Phong
Trong khi áp dụng nguyên tắc Bổ Tả, có thể xẩy ra 2 trường hợp sau:
. Mẫu Tử Đồng Hư.
. Mẫu Tử Đồng Thực.
Trong trường hợp này, cả 2 tạng đều hư hoặc thực, không thể chuyển khí trực tiếp cho nhau, vì vậy phải chuyển khí qua 1 Tạng Phủ khác rồi từ đó mới chuyển đến nơi yêu cầu.
+ Cách nhớ khi chuyển khí:
. Theo nguyên tắc: vật cùng tên thì đảy nhau, khác tên thì hợp nhau. Như
vậy: Âm đẩy Âm, Dương đẩy Dương, Âm hợp với Dương và Dương hợp với Âm.
Do đó, trên thực tế, không thể đem (chuyển) khí từ Tạng này sang Tạng khác hoặc từ Phủ này sang Phủ khác, vì tạng thuộc âm, âm với âm sẽ khắc nhau, mà phải đem khí từ 1 tạng sang 1 phủ tức là đưa từ âm sang dương hoặc ngược lại.
. Khi chuyển khí từ Tạng sang Phủ hoặc ngược lại, phải chọn huyệt mang cùng tên với hành muốn chuyển.
Thí dụ: Mẫu Tử Đồng Hư.
Phế Kim và Tỳ Thổ đều hư. Tỳ Thổ sinh Phế Kim. Tỳ là mẫu (mẹ), Phế là tử (con). Trường hợp này, muốn bổ Phế Kim, không thể lấy khí từ Tỳ Thổ chuyển sang để bổ cho Phế Kim được (theo nguyên tắc 'Hư bổ mẫu') vì Tỳ Thổ cũng ở trạng thái hư như Phế Kim.
Trường hợp này có 2 cách giải quyết:
1- Phải bổ Tỳ Thổ trước, khi Tỳ Thổ mạnh lên rồi, lúc đó mới lấy khí của Tỳ Thổ qua để bổ cho Phế Kim.
2-Phế Kim hư, Tâm Hoả sẽ vượng (vì Hoả khắc Kim). Nhân cơ hội Kim suy, Hoả càng lấn mạnh (tương thừa), vì vậy, phải lấy bớt khí từ Tâm Hoả đem sang Phế Kim. Nhưng khí của Tâm Hoả thuộc âm (tạng thuộc âm), và khí của Phế kim cũng thuộc âm. Âm với âm đẩy nhau, do đó, không thể dẫn khí thẳng từ Tâm Hoả sang Phế Kim được, mà phải chuyển khí của Tâm (tạng) sang Tiểu Trường (phủ - quan hệ Biểu lý với Tâm), bằng cách châm huyệt Lạc của Tâm là huyệt Thông Lý (Tm.5) và bổ huyệt Nguyên của Tiểu Trường là huyệt Uyển Cốt (Ttr.4), theo cách áp dụng Nguyên-Lạc huyệt. Khi đã chuyển khí từ Tâm qua Tiểu Trường rồi, châm hỏa huyệt của Phế (Ngư Tế - P.10) để thu hút khí của Tiểu Trường (Hoả) chạy sang Vị (Thổ) và Đại trường (Kim) qua Phế để bồi bổ cho Phế Kim đang bị hư.
b- Mẫu Tử Đồng Thực
Can Mộc và Tâm Hoả đồng thực. Trên nguyên tắc 'Thực tả tử', phải chuyển khí của Can qua Tâm, nhưng ở đây, Tâm Hoả cũng vượng, nên không thể chuyển khí từ Can qua Tâm được. Để giải quyết, có 2 cách:
1- Tả Tâm Hoả trước bằng cách chuyển khí của Tâm Hoả sang Tỳ Thổ theo nguyên tắc ngũ hành tương sinh. Khi Tâm hoả hết vượng rồi, sẽ chuyển khí sang Tâm.
2- Can Mộc vượng thì Tỳ Thổ suy vì Can Mộc khắc Tỳ Thổ, vậy phải chuyển bớt khí của Can Mộc qua Tỳ Thổ. Nhưng khí của Can Mộc thuộc Âm (Tạng thuộc âm), Tỳ cũng là Tạng, thuộc Âm. Âm với Âm đẩy nhau, do đó, không thể chuyển thẳng khí từ Can Mộc sang Tỳ Thổ được. Phải chuyển khí từ Can qua Đởm(Can thuộc tạng = âm, Đởm thuộc phủ = dương) bằng cách tả huyệt Lạc của Can là huyệt Lãi Câu (C.5) và bổ huyệt Nguyên của Đởm là huyệt Khâu Khư (Đ.40), theo nguyên tắc phốii hợp Nguyên - Lạc huyệt. Khi chuyển khí từ Can qua Đởm rồi, châm huyệt Mộc của Tỳ (Ẩn Bạch - Ty.1) để thu hút khí từ Đởm chạy qua Tiểu Trường (Hoả), Vị (Thổ) qua Tỳ để Can bớt vượng và Tỳ bớt suy.
Hoặc có thể giải quyết như sau:
Châm bổ huyệt Mộc của kinh Tỳ [Ẩn Bạch] (để đồng hành Mộc của Can), rồi tả huyệt Lạc của kinh Đởm (Quang Minh - Đ.37) thuộc Dương cho hợp với Tỳ thuộc Âm. Chuyển khí từ Can sang Đởm, như vậy Can khí qua Đởm và từ Đởm qua Tỳ, tránh được Can Tỳ khắc nhau.
Trong việc châm bổ ta?, cũng cần nhớ đến yếu tố “Thời” tức là cần biết lúc nào đáng bổ hoặc ta? như thiên “Ly Hợp Chân Tà Luận” ghi: “Khi tà khí từ Lạc mạch đi sâu vào kinh mạch, rồi ở luôn trong huyết mạch, bấy giờ là lúc chính khí và tà khí còn đang tranh nhau, cho nên mạch khí bị bạo động, lúc nổi lúc chìm, lúc đến lúc đi, tà khí vẫn chưa rõ ở một nơi nào nhất định. Lúc biết được tà khí vừa đến, phải “án thời” để châm tà khí, đừng cho nó phát triển. Tuy nhiên không nên châm ta? nhằm lúc tà khí và chính khí đang xung đột với nhau" (TVấn. 27, 16).
Một phương pháp Bổ Tả khá độc đáo được ghi trong sách “Châm Cứu Đại Thành” của Dương - Kế - Châu, dựa theo cảm giác nóng lạnh, tình trạng bệnh Nhiệt hoặc Hàn mà áp dụng cách châm, gọi là: “Thiêu Sơn Hỏa” và “Thấu Thiên Lương”.
1- Thiêu Sơn Hỏa: còn gọi là châm nóng, châm bổ: 3 tiến 1 lùi. Châm qua da xong, đưa kim xuống bộ Thiên, xoay kim 3-5 lần, từ trái sang phải cho có cảm giác (căng, tức, tê) tiếp tục đưa kim xuống bộ Nhân, cũng xoay kim 3-5 lần, từ trái sang phải cho có cảm giác. Sau đó rút kim ra, gần đến da, dừng một chút rồi rút kim ra, bịt lỗ kim lại.
Cách châm này có tác dụng trừ được hàn (lạnh).
Phương pháp này cũng được dùng để trị hư chứng như trong thiên “Châm Giải ” đã nhắc đến như sau: “Khi nào nhằm trị hư chứng thì dưới kim phải có nhiệt cảm thì sẽ rút kim” (TVấn. 54, 13).
Điểm đặc biệt ở đây là con số lần xoay kim đều dựa theo số lẻ (3, 5) và cách chuyển kim từ trái sang phải tức từ Dương sang Âm. Số lẻ thuộc dương ; do đó, cách châm này mang đặc tính dương và cảm giác ấm, nóng (ấm nóng thuộc dương). Phép châm này tổng hợp các động tác của các loại kích thích: Từ Tật (châm nhanh), Đề tháp (rút kim lên xuống) Cửu thất (theo số 9 hoặc 7), Hô hấp, Khai hạp (đóng, mơ?).
2- Thấu Thiên Lương : còn gọi là châm lạnh, châm tả, 1 tiến, 3 lùi. Châm qua da, đưa kim xuống ngay bộ Địa (sâu nhất), xoay kim 2-4 lần, từ phải sang trái cho có cảm giác, rút kim về đến độ Nhân, xoay kim 2-4 lần từ phải sang trái cho có cảm giác, rút kim ra gần da, dừng lại một chút rồi rút ra khỏi da, không bịt lỗ kim ngay.
Cách châm này có tác dụng trừ được nhiệt (nóng).
Phương pháp này cũng được dùng trị chứng Thực, như đã được nhắc đến trong thiên “Châm Giải ” (như sau: “Khi nhằm trị Thực chứng thì dưới kim phải có cảm giác mát lạnh thì rút châm” (TVấn. 54, 12).
Điểm đặc biệt ở đây là con số xoay kim, luôn là 2-4, tức là số chẵn (số chẵn thuộc âm), và xoay kim từ phải sang trái (bên phải thuộc âm). Vì thế, phương pháp này mang đặc tính âm, dùng để trị nhiệt chứng, thực chứng rất có hiệu qua?. Phương pháp này tổng hợp các động tác kích thích: Từ tật (châm nhanh), Đề tháp (nâng lên, đè xuống), Bát lục (theo số 8 hoặc 6), Hô hấp, Khai Hạp (mơ?, đóng), Bãi (lay kim).
Cách châm “Thiêu Sơn Hỏa” và “Thấu Thiên Lương” có thể thay đổi ít nhiều tùy thủ thuật, tùy quan điểm của từng người châm nhưng luôn giống nhau ở điểm căn bản là 3 tiến 1 lùi và 3 lùi 1 tiến.
Sách ‘Châm Cứu Đại Thành’ cũng còn nêu lên một số phương pháp Bổ Tả khác như cách châm “Âm Trung Ẩn Dương, Dương Trung Ẩn Âm”, (Âm trong dương, Dương trong âm), Tý Ngọ Đảo Cửu (Giã cối theo Tý Ngọ - chiều xung nghịch nhau), Long Hổ Thăng Giáng (Rồng Cọp lên xuống), Thanh Long Bài Vĩ (Rồng xanh vẫy đuôi), Bạch Hổ Diêu Đầu (Cọp trắng lắc đầu), Thương Quy Thám Huyệt (Rùa xanh dò tìm hang), Xích Phụng Nghênh Nguyên (Phượng đỏ nghênh suối).


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI ĐƯỢC QUAN TÂM NHIỀU

PHƯƠNG PHÁP VÀ CHẨN ĐOÁN ĐIỀU TRỊ ĐỘC ĐÁO CỦA YHCT

  Phương pháp chẩn đoán và điều trị độc đáo Y học cổ truyền Việt Nam sử dụng nhiều phương pháp chẩn đoán và điều trị độc đáo, mang tính toàn...

Kiến thức Đông Y