Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2017

BÀI THUỐC TRỊ HO "HIỆU QUẢ"

Bài thuốc: “Thanh phế chỉ khái tán” là một trong số ít những  bài thuốc Nam được nhiều người tin tưởng và lựa chọn. Đây là bài thuốc được lưu truyền qua nhiều thế hệ bởi bài thuốc không chỉ nổi tiếng vì sự cổ xưa mà còn được nghiên cứu phát triển và được vận dụng nhuần nhuyễn trong cách điều trị cho bệnh nhân. Bài thuốc đã khỏi bệnh cho hàng ngàn, hàng vạn bệnh nhân mắc các bênh về hệ hô hấp: viêm phế quản, viêm thanh quản, viêm amidan, viêm họng….nhưng đặc biệt chú trọng vào viêm phế quản cấp và mạn tính
Phương thuốc bao gồm các vị thuốc kết hợp sau:
2

THỰ VẬT DƯỢC: CỎ MẦN TRẦU

Còn gọi là ngưu cân thảo, sam tử thảo, tất suất thảo, cỏ vườn trầu, cỏ chỉ tía, cỏ dáng, cỏ bắc, cheung kras (Campuchia), mia pak kouay (Lào).

Tên khoa học Eleusine indica (L.) Gaertn. (Cynosurus indica L.)
Thuộc họ Lúa Poaceae (Gramineae).
Hoa Cỏ Mần Trầu - Eleusine indica - Nguyên liệu làm thuốc Chữa Cảm Sốt

Thứ Năm, 14 tháng 12, 2017

MỘ HUYỆT VÀ DU HUYỆT

1- Huyệt Mộ
+ Mộ còn được gọi là Mạc nghĩa là báo nguy, vì vậy, nhiều tác giả dịch là huyệt Báo Nguy, Huyệt Chẩn Đoán.
+ Khí của Tạng Phủ tụ lại ở 1 chỗ nào đó, được gọi là huyệt Mộ.
+ Huyệt Mộ nằm ở ngực, bụng.
. Có thể nằm ngay trên đường kinh liên hệ với nó như huyệt Trung Phủ  là huyệt Mộ của kinh Phế, nằm ngay trên kinh Phế.
. Có thể nằm trên đường kinh khác không quan hệ gì với nó như huyệt Trung Quản  là huyệt Mộ của kinh Vị nhưng lại nằm trên mạch Nhâm.
+ Khi Tạng Phủ bị bệnh, thường xuất hiện những phản ứng bất thường ở vùng huyệt Mộ 
(có thể ấn đau, thay đổi mầu sắc, cường độ (cứng hoặc mềm hơn...).
2- Huyệt Bối Du
Là những huyệt cũng có tác dụng chẩn đoán và điều trị.
Nằm ở phía sau lưng (bối), dọc theo đường kinh Bàng Quang, và có quan hệ nhất định đối với 1 Tạng Phủ nào đó.
Thí dụ: Phế Du là Bối Du Huyệt của Phế, Tâm Du là Bối Du huyệt của Tâm... Bệnh nhân có rối loạn ở Phế, ấn vào huyệt Phế Du thấy đau.

KINH
MỘ HUYỆT
BỐI DU HUYỆT
HUYỆT LIÊN QUAN KHÁC
Phế
Trung Phủ
Phế Du, Phách Hộ
Khí Hải Du
Đại Trường
Thiên Xu
Đại Trường Du
Hợp Cốc
Vị
Trung Quản
Vị Du, Vị Thương
Khí Xung
Tỳ
Chương Môn
Tỳ Du, Ý Xá
Đại Hoành, Đại Bao
Tâm
Cự Khuyết
Tâm Du, Thần Đường
Cực Tuyền
Tiểu Trường
Quan Nguyên
Tiểu Trường Du
Thiên Tông
Bàng Quang
Trung Cực
Bàng Quang Du
Thiên trụ
Thận
Kinh Môn
Thận Du, Chí Thất
Toàn Trúc
Tâm Bào
Đản Trung
Quyết Âm Du, Cao Hoang
Thiên trì
Tam Tiêu
Âm Giao
Tam Tiêu Du,
Thạch Môn
Thiên Dũ
Đởm
Trấp Cân
Nhật Nguyệt
Đởm Du
Dương Cương
Phong Trì,
Hoàn Khiêu.
Can
Kỳ Môn
Can Du, Hồn Môn
Hiện nay, trên lâm sàng, dựa theo kinh nghiệm tích lũy được, các nhà châm cứu đã tìm ra được khá nhiều huyệt có tác dụng tương tự như huyệt Mộ nhưng họ gọi tên là huyệt Chẩn Đoán, với ý nghĩa, qua huyệt đó, có thể chẩn đoán được sự rối loạn bệnh lý ở các cơ quan, tạng phủ liên hệ.
Thí dụ:
· Huyệt Đởm Nang để chẩn đoán bệnh ở túi mật.
· Huyệt Lan Vĩ để chẩn đoán bệnh ở ruột thừa.
· Huyệt Hợp Cốc để chẩn đoán bệnh ở Đại trường...


VỰNG CHÂM LÀ GÌ? CÁCH XỬ LÝ...

Vựng châm còn gọi là say kim
A- NGUYÊN NHÂN 
- Lần đầu
- Tâm lý
- Mệt
- Yếu
- Đói
- Thủ thuật mạnh 
B- TRIỆU CHỨNG 
- Mạch nhanh
- Hoa mắt
- Chóng mặt
- Buồn nôn
- Chân tay lạnh
- Rét run
- Mặt trắng bợt
- Vã mồ hôi
- Mất thị giác 
- Tụt huyết áp
C- XỬ TRÍ 
- Rút kim ngay
- Nằm chỗ thoáng ( không nằm trực tiếp trên mặt đất ) 
- Để đầu thấp, nghiêng một bên 
- Giải thích 
- Ủ ấm
- Uống trà gừng ấm
- Bấm huyết nhân trung, thập tuyên
- Nếu huyết áp tụt mạnh, mạch nhanh và nhỏ cần thực hiện thêm
+ Uống thuốc trợ tim
+ Thuốc trợ hô hấp
+ Thở oxy
D- PHÒNG CHỐNG 
- Châm đúng chỉ định
- Bệnh nhân nghỉ 15' trước khi châm
- Bệnh nhân ăn uống đầy đủ, không no quá
- Thủ thuật nhẹ nhàng, đúng kỹ thuật
- Châm ít kim với bệnh nhân lần đầu 

TỨ CHẨN

Chẩn đoán của Đông y bao gồm 4 phương pháp: Vấn chẩn, Vọng chẩn,Văn chẩn và Thiết chẩn, gọi tắt là tứ chẩn. Thông qua tứ chẩn để biết rõ hiện trạng và lịch sử bệnh tật của người bệnh, từ đó mới có thể tổng hợp, phân tích, làm căn cứ biện chứng luận trị.

TỨ CHẨN

Tứ Chẩn là gì?
 Tứ Chẩn là bốn phương pháp để khám bệnh của y học cổ truyền gồm: Nhìn (vọng chẩn), nghe ngửi (văn chẩn), hỏi (vấn chẩn), bắt mạch, sờ nắn (thiết chẩn), nhằm thu thập các triệu chứng chủ quan và khách quan của người bệnh.

Thứ Ba, 12 tháng 12, 2017

HỌC THUYẾT TẠNG PHỦ

I. ĐẠI CƯƠNG
Học thuyết tạng phủ còn gọi là học thuyết tạng tượng
Tạng: Các tổ chức cơ quan trong cơ thể.
Tượng: Biểu tượng bên ngoài, các hiện tượng biểu hiện ra bên ngoài.
Quan sát cơ thể sống để nghiên cứu quy luật hoạt động, sự biểu hiện của các nội tạng gọi là Tạng tượng.
Tạng tượng bao gồm mọi tổ chức cơ quan và quy luật hoạt động của chúng : Ngũ tạng, Lục phủ, Phủ kỳ hằng...
Tạng phủ của Đông y không phải là môn học giải phẫu, hình thái học mà có thể tạm coi là môn Cơ thể Sinh Lý học. Mọi hoạt động sinh lý của con người đều từ tạng phủ, mọi thứ biến hóa bện lý cũng đều có liên quan đến tạng phủ
Dựa vào những hoạt động được thể hiện ra bên ngoài, người xưa sắp xếp những nhóm chức năng vào thành Tạng Phủ.
Chẳng hạn như: Thận của Đông y không phải là 2 quả thận đơn thuần mà là những chức năng một phần của Thần kinh trung ương của Sinh dục, Tiết niệu, có liên quan đến cả Hô hấp (Thận nạp khí)...
Trong cơ thể có 5 tạng (Ngũ tạng), 6 phủ (Lục phủ) và những thể chất khác như Não, Tử cung, Khí huyết, Tinh thần và Tân dịch.

ĐIỆN CHÂM


I. ĐẠI CƯƠNG 
A. ĐỊNH NGHĨA 
Điện châm là phương pháp dùng một dòng điện nhất định tác động lên các huyệt châm cứu để phòng và chữa bệnh. Dòng điện được tác động lên huyệt qua kim châm, hoặc qua các điện cực nhỏ đặt lên da vùng huyệt. 
B. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐIỆN CHÂM 
Đây là phương pháp kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp chữa bệnh bằng châm cứu (của YHCT) với phương pháp chữa bệnh bằng dòng điện (của YHHĐ). 
Do đó phương pháp điện châm có đặc điểm: 
- Sử dụng tác dụng chữa bệnh của huyệt vị, kinh lạc. 
- Sử dụng tác dụng điều trị của dòng điện. 
Muốn phát huy đầy đủ hiệu quả của phương pháp điều trị điện trên huyệt nhất thiết phải vận dụng nghiêm chỉnh học thuyết kinh lạc nói riêng và những lý luận đông y nói chung. Đồng thời phải có hiểu biết đầy đủ và vận dụng chặt chẽ những tác dụng sinh lý, bệnh lý của các loại dòng điện.
Trong điều trị bằng phương pháp điện châm, chỉ mới dùng phổ cập dòng điện một chiều và dòng xung điện. 

NGUYÊN TẮC CHỌN HUYỆT


Để điều trị, các nhà châm cứu thường phối hợp nhiều huyệt lại với nhau (còn được gọi là một công thức huyệt). Việc xây dựng công thức huyệt tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc chọn huyệt sau: 
- Nguyên tắc chọn huyệt tại chỗ. 
- Nguyên tắc chọn huyệt theo lý luận đường kinh. 
- Nguyên tắc chọn những huyệt đặc hiệu. 
I. CHỌN HUYỆT THEO NGUYÊN TẮC TẠI CHỖ
Là cách chọn những huyệt ở chỗ đau, và lân cận nơi đau. 
Nói chung, mỗi huyệt đều có ba loại tác dụng: tại chỗ, theo đường kinh và toàn thân. Nguyên tắc chọn huyệt tại chỗ là cách vận dụng đặc điểm đầu tiên về tác dụng điều trị của huyệt.
Những ví dụ sau đây là nói về cách chọn huyệt theo nguyên tắc tại chỗ:
- Đau nhức khớp vai: chọn các huyệt Kiên ngung, Kiên tỉnh, Trung phủ. 
- Đau đầu vùng trán: chọn các huyệt Ấn đường, Toản trúc... 
- Đau răng: chọn các huyệt Giáp xa, Địa thương, Hạ quan. 
Chỉ định: cách chọn huyệt này được sử dụng trong điều trị mọi trường hợp, nhất là đau nhức.

BÁT PHÁP VÀ CHÂM CỨU

BỔ PHÁP

a-Đại Cương
Bổ pháp thường dùng trong trường hợp hư nhược của Khí, Huyết, Tân dịch, Tạng, Phủ, Âm, Dương.
Bổ pháp bao gồm các phương pháp: Nâng cao (thăng đề) dương khí, phục hồi (hồi nạp) dương khí, kích thích dương khí, điều động nguyên khí, hộ dưỡng âm khí, hóa sinh âm huyết, hành khí hoạt huyết, điều hòa ngũ tạng, tẩy rửa lục phủ, làm mạnh gân xương, bổ não tủy...
b-Chọn Huyệt Theo Bổ Pháp
Thường chọn huyệt có tác dụng bổ như:
+ Bá Hội, Đàn Trung, Khí Hải, Túc Tam Lý để bổ khí, thăng khí.
+ Tam Âm Giao, Huyết Hải để bổ dưỡng âm huyết.
Nếu cơ thể người bệnh quá suy nhược, không đáp ứng với châm thì nên chuyển sang dùng phương pháp cứu cho thích hợp hơn.
c-Cách Châm 

34 CONG THUC CHAM CUU

34 CÔNG THỨC CHÂM CỨU THƯỜNG DÙNG

NHÓM THỨ 1

a) Phối huyệt: bách hội, đại chùy, khúc trì, hợp cốc
b) Hiệu năng: sơ phong, giải biểu, điều hoà doanh
c) Chủ trị:
Các chứng ngoại cảm Phong hàn như: lục dâm tà khí còn ở tại biểu như phát nhiệt ố hàn, đầu thống, cổ chứng, lưng lạnh, thắt lưng đau, cột sống cứng, đau nhức toàn thân, không có mồ hôi, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù khẩn; lại như chứng ngoại cảm Phong nhiệt như: phát nhiệt mà không ố hàn, đầu thống tự hạn, miệng khát muốn uống nước, rêu lưỡi màu vàng nhạt hoặc sẫm, mạch phù sác. Các chứng trên đây nên dùng nhóm huyệt trên rồi tùy nghi gia giảm để trị.
d) Phép châm và cứu:
Trước hết châm bách hội, đến đại chùy, phong trì, sau đó “tả” khúc trì, hợp cốc. Châm bách hội sâu 2 phân, đại chùy sâu 5 phân, (tả). Phong trì đều sâu 5 phân, bổ nhiều tả ít. Sau khi châm nếu là thuộc Phong hàn thì nên cứu 3 đến 5 tráng, lưu kim 15 phút, nếu là thuộc Phong nhiệt đều dùng phép tả, không cứu. Ngoài ra chúng ta còn phải biện chứng cho rõ hư thực. Nếu là thể hư thì tiên bổ hậu tả, hoặc tà khí, nếu là thể thực thì tiên tả hậu bổ hoặc bình bổ bình tả, đuổi tà không làm cho chính khí bị thương, tà khí ra đi thì chính khí bình phục.
e) Phép gia giảm: sự biến hoá của bệnh ngoại cảm rất phiên tạp, chứng lại nhiều, vì thế nên trị theo phép kiêm, tức là gia giảm.
Nếu đầu thống cổ cứng khá nặng, gia: phong phủ sâu 3 phân, tiên bổ hậu tả.
Nếu Tâm bị phiền, nước tiểu vàng hoặc đỏ, gia Nội quan, sâu 5 phân, dùng phép tả.
Nếu thêm chứng cuồng ngôn, sàm ngữ, đại tiện khô táo, đó là chứng thực của kinh Dương minh, gia Phong long, Túc Tam lý, Dương Lăng tuyền, sâu từ 5 đến 8 phân, dùng phép tả.
Nếu kèm theo chứng đau hông sườn, ói mửa, gia Dương Lăng tuyền sâu 1 thốn, Chi câu sâu 5 phân, tất cả đều dùng phép tả.
Nếu kiêm chứng ho, đàm màu vàng, ngực bị bức rức, khí suyễn, gia Xích trạch, sâu 5 phân, tả.
Nếu kiêm chứng nghẹt mũi, chảy nước mũi trong gia Thương tinh, sâu 5 phân, Ngư tê sâu 3 phân, dùng phép bổ, Nghênh hương sâu 3 phân, dùng phép tả.
f) Giải phương: Bách hội đứng đầu các Dương khí, là nơi hội huyệt của Đốc mạnh và Thủ Túc Tam Dương, thuộc Thuần Dương, chủ biểu, châm huyệt này nhằm thăng Dương ích khí, phù chính khí, đuổi tà khí; Đại chùy là hôi huyệt của Đốc mạch và Thủ Túc Tam Dương, dùng để giải biểu, sơ tà, dùng phép tả có hàn khí; Phong trì là giao hội huyệt của Thiếu dương kinh và Dương duy mạch, mạch Dương duy chủ Dương khí tại biểu, dùng nó để tăng cường sức giả biểu; Khúc trì là huyệt Hợp của kinh Thủ Dương minh Đại trường, có khả năng đi ra biểu vào lý, nó có đặc tính là chỉ có “đi” chứ không có khả năng gìn giữ, vì thế chúng ta dùng nó để dẫn tà khí xuất ra ngoài; Hợp cốc là huyệt Nguyên của kinh Thủ Dương minh Đại trường, đóng vai trò thăng giáng cho khí Âm lẫn Dương, là yếu huyệt thuộc những bệnh nằm ở bán thân trở lên 5 huyệt này phối với nhau có vai trò sơ Phong, tán tà, điều hòa doanh vệ.
Huyệt gia thêm Phong phủ làm sơ, giải tà khí ở não phủ, làm tiết đi hoả khí, làm cho bớt đau. Nội quan làm cho thanh Tâm, tả nhiệt; huyệt Phong long Túc Tam lý theo với Âm Dương để làm nhuận cho bên dưới, có khả năng làm sơ thông Trường Vị; huyệt Dương lăng tuyền làm sơ can lý khí, giáng nghịch chân đứng chứng ói; huyệt Xích trạch, Ngư tế tả được hoả tà ở Phế kinh để bình được chứng ho suyễn, huyệt Thương tinh, Nghênh hương làm thanh não, lợi khiếu làm dứt chảy nước mũi.
g) Ghi chú:
Nhóm huyệt này cũng thích hợp cho trường hợp tà khí ở tại bán biểu bán lý của kinh Thiếu dương. Trong chứng sốt rét, tuy rằng phải phân biệt Âm Dương biểu lý rõ ràng, nhưng vấn đề hàn nhiệt vãng lai thì chỉ có 1 mà thôi. Tất cả chỉ lất việc điều hoà doanh vệ, phù chính đuổi tà là chủ. Nếu chúng ta tùy chứng mà gia giảm thì kết quả cũng rất khả quan.

HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG

Học thuyết âm dương, học thuyết ngũ hành,
 học thuyết thiên nhân hợp nhất

1. HC THUYT ÂM DƯƠNG
1.1. Đnh nghĩa
Cách đây gn 3.000 năm, người xưa đã nhn thy s vt luôn luôn có mâu thun nhưng thng nht vi nhau, không ngng vn đng, biến hoá đ phát sinh, phát trin và tiêu vong, gi là Hc thuyết âm dương.
Trong y hc, Hc thuyết âm dương quán trit t đu đến cui, t đơn gin đến phc tp trong sut quá trình cu to cơ th, sinh lý, bnh lý, chn đoán, và các phương pháp cha bnh y hc c truyn (thuc, châm cu, xoa bóp, khí công v.v...)

CHỨNG TÝ

A. Đại Cương
Chứng tý theo y học cổ truyền là một chú'ng bệnh mà đặc điểm chủ yếu là đau các cơ khớp ở tay chân do khí huyết không lưu thông tốt gây bế tắc kinh lạc. Những chứng bệnh phong thấp, thấp khớp cấp, viêm đa khớp dạng thấp, viêm cơ, đau thần kinh toạ, bệnh gút... đều có thể qui vào chứng tý ".

Thứ Năm, 7 tháng 12, 2017

ĐÔI NÉT VỀ ĐÔNG DƯỢC VÀ THUỐC

Nếu không hiểu biết nhiều về Đông dược (Oriental Pharmacy), chúng ta sẽ thấy việc phối hợp các vị thuốc với nhau và lượng dùng của mỗi vị  trong một bài thuốc quả thật phức tạp và kỳ bí. Phải chăng cảm giác ấy cũng do từ thực tế, tác dụng của thảo dược thường gắn với những bí ẩn của nền văn minh cổ xưa, với những bí mật nội bộ của hoàng gia, hay với những bí quyết sử dụng hương liệu độc đáo? Khi tái hiện nhân vật nữ hoàng Ai Cập Cleopatra, nhà soạn kịch Shakespeare đã mô tả mùi hương cơ thể nữ hoàng trong vở kịch “Antony và Cleopatra” là “hương thơm ngát khiến cả gió cũng phải say tình”. Thực vậy, dựa trên những di chỉ khảo cổ và sử sách lưu lại, nữ hoàng Cleopatra là bậc thầy sử dụng hương liệu. Khi Cleopatra lần đầu xuất hiện trước hoàng đế Caesar, mùi hương tỏa ra từ cơ thể bà đã khiến vị vua quyền lực ngất ngây và không thể rời xa sau đó. Sau này để bảo vệ đất nước, nữ hoàng phải quyến rũ vị tướng dũng mãnh La Mã Mark Antony và cũng thành công bằng “chiến thuật” dùng hỗn hợp hương liệu từ dược liệu.

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NHĨ CHÂM

A. THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN
1. Mối liên quan giữa tai và các kinh mạch:
Trong những tài liệu kinh điển của châm cứu đều có đề cập mối liên quan giữa tai và các kinh mạch. Trong Linh khu có nêu “Tai là nơi tụ hội của tông mạch” (Khẩu vấn), hoặc “Khí huyết của 12 kinh mạch, 365 lạc đều lên mặt để tưới cho 5 quan, 7 khiếu, não tủy ở đầu mặt... trong đó có khí huyết tách ra để tưới nhuần cho tai có thể nghe được” (Tà khí tạng phủ bệnh hình).
Những đoạn kinh văn sau đây trong Linh Khu và Tố Vấn cũng cho thấy rõ mối quan hệ giữa tai với kinh mạch, kinh biệt, kinh cân....
“Kinh thiếu dương ở tay.....từ sau tai đi vào trong tai, rồi ra trước tai”
“Kinh thiếu dương ở chân.....từ sau tai đi vào trong tai, rồi ra trước tai”
“Kinh thái dương ở tay......có nhánh đến đuôi mắt, rồi vào trong tai...”
“Kinh thái dương ở chân.....có nhánh đi từ đỉnh đầu tới tai”
“Kinh dương minh ở chân đi qua giáp xa để đến trước tai”
“Kinh nhánh của quyết âm Tâm bào ở tay.....đi ra sau tai hợp với thiếu dương Tam tiêu ở Hoàn cốt”
“Kinh cân thiếu dương ở chân vòng ra sau tai ở góc trán....”
“Nhánh của kinh cân dương minh ở chân kết ở trước tai. Nhánh của kinh cân thái dương ở tay vào trong tai. Nhánh của kinh cân thiếu dương ở tay.....vòng trước tai”
“Lạc của các kinh thiếu âm, thái âm ở chân tay; dương minh ở chân đều hội ở trong tai”.
Những đoạn kinh văn nêu trên cho thấy có 5 kinh dương, 1 kinh biệt, 4 kinh cân dương ở chân và kinh cân dương minh ở tay liên quan với tai. Đồng thời chúng ta cũng biết rằng mỗi kinh âm và kinh dương chính đều có một kinh nhánh. Tất cả những kinh nhánh âm đều đổ vào kinh nhánh dương có quan hệ biểu lý tương ứng, và tất cả các kinh nhánh dương đều đổ vào kinh chính của nó. Như vậy tất cả các kinh âm và kinh dương chính đều thông với nhau qua kinh nhánh của chúng và hầu hết các kinh âm và dương chính đều có liên quan đến tai.

GIÃN TĨNH MẠCH THEO YHCT

  • Theo Y học cổ truyền, các triệu chứng của bệnh lỳ Giãn tĩnh mạch chi dưới như tê mỏi chân, nặng chân, phù chân… thuộc phạm trù thể khí trệ huyết ứ.
    Các chức năng của các tạng phủ liên quan đến thể bệnh này:
picture0

CĂN BẢN VỀ NHỈ CHÂM

1. Nhĩ châm là gì?

Nhĩ là tai, lỗ tai, còn châm là châm cứu. Vậy nhĩ châm là cách sử dụng thủ thuật châm cứu trên vùng loa tai để chẩn đoán và điều trị các vấn đề sức khỏe của các bộ phận trên cơ thể.
Nhĩ châm đã được chứng minh là một phương pháp hiệu quả trong điều trị và hỗ trợ điều trị nhiều loại bệnh lý khác nhau, từ đau đầu, dị ứng đến cả một số tình trạng nghiện thuốc là và các vấn đề đau khác. Nhĩ châm được hệ thống hóa đầy đủ và chi tiết bắt đầu từ những năm 1950 nhờ bác sĩ người Pháp Paul Nogier.

BƯỚU NHÂN TUYẾN GIÁP

PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ
·                    Quân bình năng lượng nhằm khai thông những chỗ bị bế tắc, lập lại quân bình âm dương cho cơ thể.
·                    Dùng phác đồ tiêu viêm, tiêu độc, tiêu bướu khối u.
 41- 143- 127- 19- 37- 38- 8- 12- 14- 275.
Các huyệt trên ấn theo 3 lần cách khoảng.
·                    Day tròn nhẹ  2 cổ tay nơi phản chiếu cổ.

NHÌN MẶT BẮT BỆNH

Tại sao chỉ qua quan sát khuôn mặt có thể bắt được bệnh? Theo y học cổ truyền, sắc diện của gương mặt được dùng để đánh giá sức khỏe cơ thể con người, vì thế từ cổ chí kim, các thầy thuốc Đông y vẫn thường  quan sát những vị trí trên khuôn mặt và trạng thái cảm xúc của người bệnh để phán đoán bệnh tình. 
nhin-mat-bat-benh-3

Phương pháp châm loa tai (nhĩ châm)

Hình thành và phát triển nhĩ châm
Nhĩ châm là một di sản quý báu trong châm cứu học cổ truyền của nhân loại. Nó có nguồn gốc rất xa xưa từ lối chữa bệnh dân gian của nhiều dân tộc thuộc vùng Địa Trung Hải vào thời đại văn minh cổ đại Ai Cập, đồng thời cũng được nêu lên trong kho tàng y học cổ truyền Đông phương.

BÀI ĐƯỢC QUAN TÂM NHIỀU

PHƯƠNG PHÁP VÀ CHẨN ĐOÁN ĐIỀU TRỊ ĐỘC ĐÁO CỦA YHCT

  Phương pháp chẩn đoán và điều trị độc đáo Y học cổ truyền Việt Nam sử dụng nhiều phương pháp chẩn đoán và điều trị độc đáo, mang tính toàn...

Kiến thức Đông Y