Thứ Hai, 28 tháng 8, 2017

CHỮA ĐAU CỔ GẤY BẰNG BẤM HUYỆT

Bấm huyệt là một trong những thành tựu tuyệt vời của Đông y, phát triển không ngừng qua hàng ngàn năm lịch sử và được xem là bí quyết kỳ diệu trong việc phòng và chữa bệnh. Chuyên gia Đông y luôn tin rằng, ai cũng nên áp dụng triệt để các ngón tay của mình trước khi phải dùng đến kim tiêm.
Vì sao bệnh đau vổ vai gáy đang trẻ hóa nhanh?
Trước đây, đau đốt sống cổ là bệnh đặc trưng của nhóm người ở độ tuổi trên 40, nhưng hiện nay những bệnh nhân bị đau đốt sống cổ càng ngày càng trẻ, thậm chí những bạn học sinh phổ thông đã bị đau đốt sống cổ, vai gáy.
Nguyên nhân đau đốt sống cổ thường là hay cúi đầu làm việc trong thời gian dài, hoặc nhìn máy tính, chơi điện tử, xem điện thoại.., cơ thể ngả về phía trước quá lâu, làm cho đốt sống cổ và dây thần kinh xung quanh, cùng mạch máu đều bị áp lực.
Bệnh để lâu dần sẽ gây ra chóng mặt, đau đầu, hoa mắt, khô mắt, buồn nôn khó chịu, đau lưng, đau cổ không rõ nguyên nhân, ù tai, tê tay, có người còn xuất hiện các cơn đau ngực và một loạt các triệu chứng khác.

Thuốc quý phòng chữa bệnh "khó nói" cho quý ông

Nam giới mắc bệnh "khó nói" thường nhờ đến sự hỗ trợ của các loại thuốc có nhiều tác dụng phụ. Có một cách đơn giản hơn là hãy điều chỉnh thực đơn ăn uống nhờ những bài thuốc này.

Những bài thuốc quý phòng chữa bệnh "khó nói" cho quý ông, ăn đều đặn hiệu quả rất tốt
Theo các chuyên gia sức khỏe và dinh dưỡng Trung Quốc, có một việc đơn giản nhất mà bất kỳ quý ông nào cũng làm được, đó là ăn bổ sung hoa quả, một số loại hạt để tăng cường thể chất, điều trị một số bệnh liên quan đến chức năng nam giới. Nếu thực hiện đều đặn ở một mức hợp lý, còn tốt hơn việc bạn uống thuốc bổ, thuốc tăng lực, tráng dương mà không rõ tác dụng của nó.

6 động tác đơn giản giúp bảo vệ phủ tạng: Bạn nên làm hàng ngày

Những động tác đơn giản, tiết kiệm thời gian dưới đây không chỉ giúp bạn khai thông kinh lạc mà còn có tác dụng bảo vệ phủ tạng, phòng chống nhiều căn bệnh nguy hiểm.

1. Thường xuyên chải đầu: Không lo tóc bạc
Việc chải đầu một cách thường xuyên không những giúp bạn tăng cường tuần hoàn máu ở da đầu mà còn có nhiều công dụng như khơi thông kinh khí, dưỡng mạch máu, giảm mệt mỏi, cải thiện chức năng thần kinh, có lợi cho giấc ngủ…
Công đoạn chải tóc nên được bắt đầu từ một bên thái dương rồi dần dần chải lên đỉnh đầu, sau đó tiếp tục chải bên còn lại. Trong đó, thái dương và đỉnh đầu là hai vị trí dễ có tóc trắng nhất, bạn nên chải nhiều lần ở những khu vực này.
Khi thực hiện, động tác cần nhẹ nhàng. Mỗi ngày chải khoảng 200 cái cho đến khi cảm thấy da đầu nóng lên là được.
Lưu ý rằng lược dùng chải đầu không được quá nhọn, tốt nhất nên chọn dùng lược gỗ hoặc lược sừng trâu. Khi chải đầu không dùng lực quá mạnh, tránh kích thích làm sản sinh gàu.

Chủ Nhật, 27 tháng 8, 2017

Các bài thuốc nam chữa bệnh xương khớp, phong thấp hàng đầu

Là mình mẩy các khớp xương không đỏ, không sưng, mà tự nhiên phát đau, có khi chân tay không cử động được nguyên nhân do nguyên khí hư yếu, phong hàn thấp, ba khí xâm nhập vào mà sinh bệnh, nếu phong khí thắng thì đau chạy khắp gọi là lịch tiết phong, hàn khí thắng thì đau nhức dữ dội gọi thông phong, thấp khí thắng thì đau nhức cố định một chỗ, tê dại cấu không biết đau gọi trước thông, nhưng ba khí ấy nhập vào kinh lạc trước rồi xâm nhập vào xương thì nặng nề không giơ lên được.
  1. Cao trị phong thấp
– Xương trâu 1kg                                 
– Thiên niên kiện 1kg
– Địa liền 1/2kg                                   – Hy thiêm 3kg
– Ngải diệp 2kg
Chủ trị ăn ngon, ngủ khỏe, lên cân, bồi bổ.
Thuốc không phản ứng, khẩu vị thơm ngon béo được đa số người dùng ưa thích.

7 bài thuốc nam chữa mất ngủ hiệu quả nhanh

  1. Buồn phiền mất ngủ
  • 40 quả táo to, 7 cây hành tăm sắc với nước uống cho kỳ hết.
  1. Đởm hư mất ngủ, tâm hay hồi hộp
  • Táo nhân 1 lạng, Sâm 1 lạng, Thần sa 1/2 lạng, Nhũ hương 2 đồng cân đều tán nhỏ, sắc lá tre mà uống với thuốc.

TÁC DỤNG CỦA LÁ SEN, NGÓ SEN, HOA DEN, HẠT SEN, TIM SEN TRONG TRỊ BỆNH

SEN

Tên khác:             Liên, ngậu (Tày), bó bua (Thái), lìn ngó (Dao).
Tên khoa học: Nelumbo nucifera Gaertn.
Họ Sen súng (Nelumbonaceae).

MÔ TẢ

Cây thảo, sống ở nước.
Thân rễ mập, mọc trong bùn.
Lá hình tròn, mọc vượt lên khỏi mặt nước bằng một cuống rất dài đính vào giữa lá, màu lục xám, mép nguyên uốh lượn, mặt sau đôi khi điểm những đốm tía, gân hình khiên.
Hoa to, màu hồng hoặc trắng, mọc trên cuống dài có nhiều gai ngắn; lá đài màu lục, rụng sớm; cánh hoa nhiều, cánh ngoài to và khum, cánh giữa và cánh trong nhỏ dần; nhị rất nhiều, màu vàng; bộ nhụy gồm nhiều lá noãn rời nằm trong đế hoa hình nón ngược.
Quả bế, có vỏ ngoài mỏng và cứng, màu lục tía, phần giữa chứa tinh bột màu trắng, phần trong là lá mầm, màu lục sẫm.
Mùa hoa quả: tháng 5 – 9.
Lá sen
Lá sen

BA BÀI THUỐC ĐÔNG Y ĐIỀU TRỊ GIẢM HAM MUỐN

Bài thuốc 1: Điều trị giảm ham muốn do Thể can uất.
Bài thuốc bao gồm các vị thuốc sau: cam thảo, uất kim, hợp hoan bì, phật thủ, phục linh, sài hồ, bạch truật, đương quy, hương phụ, bạch thược.
thuoc-chua-the-can-at-chua-giam-ham-muon
Bài thuốc đông y điều trị giảm ham muốn do thể can uất.

Thứ Năm, 24 tháng 8, 2017

KIẾN THỨC CHÂM CỨU

I-KINH THỦ THÁI ÂM PHẾ
I-LUNG MERDIAN OF HAND-TAIYIN
  
I.       Đường vận hành - Passage
Kinh lạc chạy từ tam tiêu (phía trong cơ thể), men theo Đại trường, Vị qua cơ hoành đến Phế, sau đó chạy từ giữa cổ và ngực chạy ra ngoài, khi chạy đến Trung phủ thực chất là đã chạy ở phía ngoài. Kinh lạc tiếp tục đi từ phía dưới xương đòn (huyệt Trung Phủ) men theo bờ trong cánh tay cho đến ngón tay cái. Kinh chạy qua hõm khuỷu tay (huyệt Xích Trạch),động mạch quay (huyệt Liệt Khuyết và huyệt Thái uyên), đồng thời thông qua tâm kinh và tâm bào kinh, chạy thẳng đến góc ngón tay cái và dừng ở huyệt Thiếu Thương.
The lung Merdian of hand-Taiyin begins from L1 acupoint, located below the lateral end of the clavicle, it goes down to distal along the medial aspect of the upper arm. It passes radial aspect of heart Meridian and triple anergizer meridial. Reaching L5 acupoint in cubital fossa, reaching L7 and L9 acupoints in the area of the transverse wrist crease, finally it ends at the medial aspect of nail corner of the thumb.
The meridian first goes through an inner passage which in unseen on the Mode1. It originates from the scope of 3 energizer, running downward to large intestine, winding back, to stomach, through diaphragm and enters the lung, its pertaining organ. After it runs on upper area, between neck and thorax, It comes out from L1 acupoint upwardly.

XOA BẤM HUYỆT TRỊ ĐAU CỔ VAI GÁY...

Hướng dẫn xoa bóp bấm huyệt chữa đau cổ vai gáy tại nhà

Để chữa đau vai gáy, cần phải trục xuất tà khí phong hàn trong cơ thể, đồng thời làm thông kinh lạc, giúp máu huyết lưu thông và tránh tình trạng tắc nghẽn. Ngoài việc uống thuốc chữa đau cổ vai gáy, xoa bóp và bấm huyệt là phương pháp bổ trợ giúp cải thiện các triệu chứng đau nhức vai gáy hiệu quả.

Hướng dẫn xoa bóp chữa đau cổ vai gáy 

 Tư thế chuẩn bị: Bệnh nhân ngồi trên ghế và thả lỏng cơ, người hỗ trợ đứng sau lưng bệnh nhân.
 Các bước thực hiện phương pháp xoa bóp chữa đau vai gáy:

Thứ Tư, 23 tháng 8, 2017

CANH XƯƠNG RỒNG - CHẶN ĐỨNG THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM VÀ GAI CỘT SỐNG

Đôi nét về cây xương rồng chữa gai cột sống
Xương rồng có tên khoa học là Euphorbia antiquorum L thuộc họ Thầu dầu. Hiện có rất nhiều tên gọi khác nhau về cây xương rồng như: Bá vương tiêm, Hóa ương lặc,… Loại cây cảnh này có khoảng hơn 2000 loại, trong đó có nhiều loại cho quả, hoa và thân cây dùng để làm thực phẩm, làm thuốc chữa bệnh cho con người rất tốt.
 Xương rồng chia 3 có tác dụng chữa thoát vị đĩa đệm và gai cột sống

SƠ MỠ ĐỘNG MẠCH

ĐẠI CƯƠNG:
Xơ mỡ động mạch (XMĐM) là nguyên nhân dẫn đầu gây tử vong và tàn tật ở các nước phát triển. Mặc dù bệnh khá phổ biến nhưng một vài tính chất cơ bản của bệnh vẫn chưa được hiểu biết đầy đủ.
Atherosclerosis, tên gọi của bệnh nói lên tình trạng tích tụ của mỡ làm thành trong mạch máu bị dày lên.
Bệnh không xuất hiện trên tất cả các động mạch của cơ thể. Thông thường nó xuất hiện ở động mạch chủ bụng, kế đến là động mạch vành tim, trước khi tấn công đến các động mạch chậu và động mạch não. (Các động mạch cảnh ngoài, động mạch vú, động mạch nách không bao giờ thấy XMĐM dù chưa rõ lý do).
Chỉ những biến chứng của bệnh mới làm thấy rõ bệnh. Trong một thời gian dài, tiến triển của XMĐM rất yên lặng, không triệu chứng và đơn thuần chỉ là những thay đổi về giải phẫu. Những sang thương trên dài dần trong lòng động mạch làm dòng máu chạy chậm lại, tạo nên tắc nghẽn mạch, đưa đến những hội chứng thiếu máu cấp và mạn. Những biến chứng của XMĐM gồm:

Động mạch
Biến chứng
- Mạch vành tim- Đau thắt ngực
- Nhồi máu cơ tim
- Đột tử
- Suy tim
- Dưới đòn- Cướp máu dưới đòn
 
- Động mạch cảnh
 
- Hệ thống ĐM tủy - thân nền
- Động mạch não
- Cơn thiếu máu não thoáng qua
- Tai biến mạch máu não do thiếu máu nuôi
- Động mạch thận- Suy thận
- Huyết áp cao
- Động mạch mạc treo- Thiếu máu mạc treo
- Nhồi máu mạc treo
- Động mạch chi dưới- Khập khễnh cách hồi
- Thiếu máu nuôi cấp tính
 (Những biến chứng của xơ mỡ động mạch)

ĐIỀU TRỊ : VIÊM LOÉT DẠ DÀY - TÁ TRÀNG (THEO YHCT)

CƠ CHẾ BỆNH SINH:
THEO YHCT:
 
Bệnh loét dạ dày tá tràng với biểu hiện lâm sàng là đau vùng thượng vị cùng với một số rối loạn tiêu hóa, được xếp vào bệnh lý của Tỳ Vị với bệnh danh là Vị quản thống mà nguyên nhân có thể là:
 
1- Những căng thẳng tâm lý kéo dài như giận dữ, uất ức khiến cho chức năng sơ tiết của tạng Can mộc bị ảnh hưởng, từ đó cản trở tới chức năng giáng nạp thủy cốc của Vị.
 
2- Những căng thẳng tâm lý kéo dài như lo nghĩ, toan tính quá mức cũng như việc ăn uống đói no thất thường sẽ tác động xấu tới chức năng kiện vận của tạng Tỳ và ảnh hưởng xấu tới chức năng giáng nạp thủy cốc của Vị.
 
Trên cơ sở đó, thời tiết lạnh hoặc thức ăn sống lạnh mà YHCT gọi là Hàn tà sẽ là yếu tố làm khởi phát cơn đau. Trong giai đoạn đầu, chứng Vị quản thống thường biểu hiện thể Khí uất (trệ), Hỏa uất hoặc Huyết ứ, nhưng về sau do khí suy huyết kém chứng Vị quản thống sẽ diễn tiến theo thể Tỳ Vị hư hàn.
 

Sơ đồ cơ chế bệnh sinh loét dạ dày tá tràng theo YHCT
CHẨN ĐOÁN:

VIÊM PHẾ QUẢN CẤP VÀ MẠN


Phế quản là hệ thống đường thở bao gồm các ống từ lớn đến nhỏ dần, có nhiệm vụ dẫn khí từ mũi họng đến phế nang. Còn gọi là khí đạo hay cây khí phế quản.
Viêm phế quản cấp là tình trạng viêm nhiễm cấp tính niêm mạc cây khí phế quản. Thường tiến triển tự nhiên hết, hoặc cuối cùng sau điều trị sẽ lành hẳn bệnh và hoạt động hô hấp tuần hoàn trở lại bình thường.
Viêm phế quản mạn tính là một bệnh có liên quan với sự tiếp xúc lâu dài với những chất kích thích phế quản không đặc thù, đi đôi với sự tăng tiết niêm dịch cùng một số thay đổi về cấu trúc của phế quản. Về mặt lâm sàng, được coi là viêm phế quản mạn khi bệnh nhân có ho khạc kéo dài ít nhất 90 ngày trong 1 năm và trong 2 năm liên tục. Ho khạc được loại trừ là không do các bệnh khác như lao, dãn phế quản, abcès, bụi phổi … (Lancet, 1965). Định nghĩa trên chỉ nêu được mốc tối thiểu khởi đầu của viêm phế quản mạn, vì viêm phế quản mạn bao gồm những trạng thái bệnh lý nặng nhẹ khác nhau, từ ho khạc đàm giảm đến những đợt suy hô hấp thường xuyên mà tiên lượng cũng không kém nguy hiểm như nhồi máu cơ tim (Bourgeois, 1979). Điều này nói lên tính cần thiết của sự phát hiện và đề phòng tiến triển xâu.

NGUYÊN NHÂN, BỆNH SINH VÀ GIẢI PHẪU BỆNH:

THEO YHCT:
Dựa vào biểu hiện lâm sàng viêm phế quản cấp và mạn, các triệu chứng chủ yếu để khẳng định bệnh là ho và khạc đàm. Tùy thuộc vào diễn biến của bệnh có thể có thêm triệu chứng khó thở, cò cử. Các triệu chứng nêu trên được YHCT mô tả trong các chứng khái thấu, háo suyễn, đàm ẩm.

BỆNH TIỂU ĐƯỜNG - CÁCH ĐIỀU TRỊ THEO YHCT


THEO YHCT:
1- Đại cương:
Theo Y học cổ truyền, các triệu chứng ăn nhiều vẫn gầy, tiểu nhiều, uống nhiều và khát nhiều nằm trong phạm trù chứng Tiêu khát.
Tiêu có nghĩa là thiêu đốt, đốt cháy trong chữ Tiêu có bộ Hỏa, để diễn tả loại bệnh lý do Hỏa thiêu đốt làm cạn khô huyết dịch, tân dịch khô thì phát khát, khi khát uống bao nhiêu cũng không cảm thấy đủ, uống vào đi tiểu ra ngay.
Tiêu khát được định nghĩa là chứng khát đi kèm với uống nhiều, ăn nhiều mà người lại gầy hóc.

VIÊM GAN MẠN TÍNH

THEO YHCT:
 
Bệnh viêm gan mạn được YHCT khái quát trong phạm trù các chứng Hoàng đản, Hiếp thống đi cùng với các rối loạn tiêu hóa mà nguyên nhân có thể do:
 
1. Cảm phải thấp nhiệt tà khiến cho Can khí uất kết, không sơ tiết được Đởm mà sinh ra vàng da.
 
2. Do ăn uống không điều độ, lao lực quá mức, kết hợp với uống rượu khiến cho công năng tiêu hóa của Tỳ Vị bị rối loạn sinh ra thấp, thấp ứ đọng lâu ngày đưa đến nhiệt, thấp nhiệt uất kết sinh ra chứng Hoàng đản.
 
Sơ đồ cơ chế bệnh sinh viêm gan mạn theo YHCT.
 

ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM THEO ĐÔNG Y

Bài thuốc 1:
Chuẩn bị: Cây chìa vôi, Cây cỏ ngươi, cỏ xước, Lá lốt, Tầm gửi, dền gai
Cây cỏ xước có trong bài thuốc Đông y trị Thoát vị đĩa đệm
Cây cỏ xước có trong bài thuốc Đông y trị Thoát vị đĩa đệm

CHỮA THOÁI HOÁ CỘT SỐNG BẰNG CÂY HOA TRINH NỮ

Theo Đông y, hầu hết các bộ phận của cây xấu hổ đều được dùng làm thuốc. Trong đó cành và lá cây xấu hổ có vị ngọt, hơi đắng, tính lạnh, hơi độc; có tác dụng thanh can hỏa, an thần, tiêu tích, giải độc thường dùng trong các bài thuốc dưỡng tâm, an thần, giải độc cho cơ thể. Rễ xấu hổ có vị chát, hơi đắng, tính ấm, có độc tố, có tác dụng chỉ khái, hóa đàm, thông kinh, hoạt lạc, hòa vị, tiêu tích.
Không chỉ có tác dụng trong việc giải độc và an thần cho cơ thể, trinh nữ còn có thể chữa được zola, các bệnh về dạ dày, viêm phế quản, suy nhược thần kinh, cao huyết áp, xấu hổ được coi là một thần dược trong điều trị các bệnh về xương khớp, sau khi phơi khô sắc thuốc xấu hổ có thể chữa được đau lưng, tê bì chân tay, đau nhức xương khớp, thấp khớp viêm khớp, thoái hóa cột sống vô cùng hiệu quả.
Cây trinh nữ có tác dụng giảm đau và kháng viêm vô cùng hiệu quả đối với người bệnh thoái hóa cột sống. Rễ của chúng chính là thần dược trong việc điều trị thoái hóa cột sống.

SÂM ĐẤT - THỔ SÂM

Sâm đất là cây thân thảo, mọc đứng, thân nhẵn, phân nhánh nhiều ở dưới, lá mọc so le hình trái xoan thuôn hay trứng ngược, phiến lá dày, hơi mập, bóng cả 2 mặt, mép lá hầu như lượn sóng. Hoa nhỏ màu hồng. Quả nhỏ, khi chín có màu đỏ nâu hay xám tro, rất nhỏ, dẹt màu đen nhánh.
Sâm đất mọc hoang, có mặt khắp nơi Việt Nam, đặc biệt là ở vùng núi.

HOA TRINH NỮA - THUỐC NAM QUÝ- TRỊ MẤT NGỦ,,PHONG THẤP, HUYẾT ÁP...

Tên khác 
Tên dân gian: Mắc cỡ, Xấu hổ, Trinh nữ, Hàm tu thảo, cây thẹn 
Tên khoa học: - mimosa pudica L - Xấu hổ L Họ khoa học: thuộc họ Ðậu - Fabaceae. 
Cây mắc cỡ (Mô tả, hình ảnh cây mắc cỡ, thu hái, chế biến, thành phần hoá học, tác dụng dược lý ....) Mô tả: Cây mắc cỡ là một cây thuốc nam quý. Cây nhỏ, phân nhiều nhánh, có gai hình móc. Lá kép lông chim chẵn hai lần, nhưng cuống phụ xếp như hình chân vịt, khẽ đụng vào là cụp lại. Mỗi lá mang 15-20 đôi lá chét. Hoa màu tím đỏ, nhỏ, tập hợp thành hình đầu, có cuống chung dài, ở nách lá. Cụm quả hình ngôi sao, quả thắt lại giữa các hạt, có nhiều lông cứng. Mùa hoa quả tháng 6-8. 
Bộ phận dùng: Toàn cây - Herba Mimosae Pudicae, thường gọi Hàm tu thảo. 

THẤP KHỚP HAY TÁI PHÁT - CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ

Khởi phát thường trước tuổi 40, có viêm cột sống hoặc những khớp lớn ngoại vi, viêm màng bồ đào trong một số ít bệnh nhân, có mối liên quan chặt chẽ với HLA-B27 và vắng mặt các tự kháng thể trong huyết thanh.
Thấp khớp hay tái phát là một bệnh không rõ nguyên nhân đặc trưng bởi những đợt viêm cấp không tái phát (khoảng cách giữa các cơn không đều nhau). Sưng đau khớp ngoại vi và nổi hạt dưới da tạm thời có thể xuất hiện. Các cơn viêm khớp hết trong vòng vài giờ hoặc vài ngày. Khớp gối và các khớp ở ngón tay thường bị ảnh hưởng nhất, tuy nhiên bệnh có thể xuất hiện ở bất kỳ khớp nào. Cho dù có thể có hàng trăm cơn cấp xuất hiện trong một năm thì tổn thương phá hủy khớp vĩnh viễn vẫn không xảy ra. Các xét nghiệm không bình thường. Thấp khớp hay tái phát cần phải phân biệt với gút cấp và thể viêm khớp dạng thấp khởi phát cấp không điển hình.
Điều trị triệu chứng bằng các thuốc chống viêm giảm đau không steroid thường là đủ trong những cơn cấp. Hydroxychloroquin có thể có tác dụng để ngăn chặn sự tái phát.

ĐAU THẮT LƯNG - CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ

Khi tiếp cận một bệnh nhân đau thắt lưng không chấn thương cần biết một số điểm sau đây. Thứ nhất, đau thắt lưng là một tình trạng rất phổ biến, các số liệu cho thấy tỷ lệ có thể đạt tới 80% dân số. Thứ hai, chẩn đoán phân biệt đau thắt lưng rất rộng, bao gồm những bệnh lý toàn thân (như ung thư di căn), bệnh lý tiên phát của một cột sống (như thoái vị đĩa đệm, thoái hóa) và những bệnh lý của các cơ quan lân cận (như phình động mạch chủ), đều có thể gây đau vùng thắt lưng. Thứ ba là phần lớn trong các trường hợp người ta không thể chẩn đoán chính xác nguyên nhân gây bệnh. Những cái tên thường được dùng như “căng dãn cột sống”, “trẹo cột sống” hay chứng đau lưng đã nói lên tính chất chung chung, không xác đáng trong vân đề chẩn đoán. Thậm chí ngay cả khi có mặt của một số bất thường về cột sống như mỏ xương đốt sống, hẹp đĩa đệm cũng không thể coi đó là bệnh lý, bởi vì những bất thường như thể rất phổ biến ở những bệnh nhân không có triệu chứng. Thứ tư, phần lớn bệnh nhân đều lui bệnh sau 1- 4 tuần điều trị bảo tồn và không cần thiết phải thăm khám, xét nghiệm gì thêm. Do đó vấn đề đặt ra trong chẩn đoán là phải xác định trong số nhiều bệnh nhân đau thắt lưng một số ít đối tượng cần thiết phải thăm dò thêm và đánh giá khẩn trương.
Trên thực tế, điều đó có nghĩa là cần tìm những nguyên nhân gây đau lưng như: (1) nhiễm khuẩn, (2) ung thư, (3) bệnh lý viêm cột sống như viêm cột sống dính khớp, (4) hoặc những tình trạng không phải bệnh lý thấp khớp, đặc biệt là dò túi phình động mạch chủ. Những dấu hiệu thần kinh điển hình hoặc tiến triển tăng dần cũng cần phải lưu ý. Nếu không có bất kỳ bằng chứng nào của các tổn thương trên thì chỉ cần điều trị bảo tồn.

CÂY NGƯU TẤT - CỎ XƯỚC - CHỮA VIÊM KHỚP

Mô tả cây
 
Cây ngưu tất
Cây ngưu tất là một 10ại cỏ xước cho nên người ta nhầm với cây cỏ xước Achyranthes aspera L. Cỏ có thân mảnh, hơi vuông, thường chỉ cao 1m, cũng có khi tới 2m. Lá mọc đối có cuống, dài 5-12cm, rộng 2-4cm, phiến lá hình trứng, đầu nhọn, mép nguyên. Cụm hoa mọc thành bông ở đầu cành hoặc kẽ lá.

CHỮA RỐI LOẠN KINH NGUYỆT BẰNG CÂY CỎ ĐÔNG Y

Mô tả cây
 
Cây hoa cứt lợn
Cây hoa cứt lợn là một cây nh, mọc hàng năm, thân có nhiều lông nhỏ mềm, cao chừng 25-50cm, mọc hoang ở khắp nơi trong nước ta. Lá mọc đối hình trứng hay 3 cạnh, dài 2-6cm, rộng 1-3cm, mép có răng cưa tròn, hai mặt đều có lông, mật dưới của lá nhạt hơn. Hoa nhỏ, màu tím, xanh. Quả bế màu đen, có 5 sống dọc.

RỐI LOẠN KINH NGUYỆT THEO ĐÔNG Y

Định nghĩa
Chu kỳ kinh nguyệt được đánh dấu bằng sự chảy máu từ âm đạo có chu kỳ, xảy ra khi niêm mạc tử cung (nội mạc chức năng) bị bong ra và chảy máu. Thời gian của mỗi chu kỳ được tính từ khi bắt đầu kỳ kinh này đến khi bắt đầu kỳ kinh sau (ngày bắt đầu là ngày đầu tiên chảy máu).
Bình thường, phụ nữ ở lứa tuổi hoạt động sinh dục có thời gian vòng kinh nguyệt trung bình là 28 (± 3) ngày, thời gian hành kinh 4 (± 2) ngày, lượng mất máu trung bình là 40 - 100 ml. Một chu kỳ kinh nguyệt bình thường có phóng noãn chia làm 2 giai đoạn:
Giai đoạn chịu ảnh hưởng của chất Estrogen (từ ngày 1 đến ngày 12 của chu kỳ).
Giai đoạn chịu ảnh hưởng của chất Progesterone kết hợp với Estrogen (từ ngày 13 đến ngày thứ 28 của chu kỳ 28 ngày).
Rối loạn kinh nguyệt là những biểu hiện bất thường của kinh nguyệt về thời gian, tần số và lượng máu mất trong ngày hành kinh, cùng với những triệu chứng khác kèm theo. Cụ thể là:
Sự thay đổi về chu kỳ hành kinh:
Trước kỳ: sớm hơn 7 ngày.
Sau kỳ: châm hơn 7 ngày.
Thay đổi về tính chất:
Số lượng máu ra nhiều hoặc ít hơn bình thường.
Số ngày hành kinh ngắn hoặc dài.
Màu sắc huyết: tím, đỏ, nhạt.
Tính chất kinh: huyết đặc, loãng hoặc thành cục.
Các rối loạn kinh nguyệt bao gồm:
Chứng chảy máu bất thường ở tử cung.
Chứng thống kinh.
Chứng vô kinh.

CHỮA TRỊ CHỨNG BẤT LỰC THEO ĐÔNG Y

Định nghĩa
Bất lực là tình trạng không thể đạt được sự cường dương, sự xuất tinh hoặc cả hai. Một người đàn ông bị rối loạn chức năng tình dục thường than phiền về những tình trạng như mất ham muốn, không thể khởi phát hoặc duy trì sự cường dương, không thể xuất tinh hoặc xuất tinh sớm hoặc không thể đạt được khoái cảm.
Rối loạn chức năng tình dục có thể là thứ phát do bởi một bệnh hệ thống, do bởi sự lạm dụng các loại thuốc hoặc bị một bệnh ở hệ sinh dục, tiết niệu và nội tiết hoặc chỉ do bởi tâm lý.

BỆNH HỌC THẬN BÀNG QUANG

Chức năng sinh lý tạng thận và phủ bàng quang
Theo Kinh Dịch, tạng Thận ứng với quẻ Khảm của Hậu thiên bát quái. Quẻ Khảm được giải thích:
Tượng của Khảm là nước. Tạng Thận ứng với quẻ Khảm. Do đó Thận chủ thủy. “Thận vi Thủy tạng”.
Gồm 1 vạch dương nằm giữa 2 vạch âm là tượng trưng cho Hỏa nằm trong Thủy, là Dương nằm trong Âm. Ứng với tính chất của quẻ mà người ta có quan niệm là Thận Hỏa nằm giữa Thận thủy và vì quẻ Khảm là nguồn gốc sự sống nên Thận Hỏa cũng là lửa của sự sống (mệnh môn hỏa).
Là nơi giữ lại. Do đó tạng Thận phải là nơi cất giữ tinh khí hậu thiên và tiên thiên của nhân thể. “Thận là phong tàng chi bản”. (Lục tiết tạng tượng Thận/Tố vấn).
Mọi sự sống đều bắt nguồn từ nước. Do đó tạng Thận là nguồn gốc của sự sống con người. Con người mới sinh ra đầu tiên là nhờ tinh khí tiên thiên mà sống và phát triển. Do đó Thận chủ tiên thiên.
Là nước đối với đất (làm cho đất phì nhiêu). Thận chủ tinh khí tiên thiên sẽ giúp cho Tỳ thổ vận hóa thủy cốc thành tinh khí hậu thiên. Cả 2 sẽ nuôi dưỡng mọi tạng phủ, khí quan trong nhân thể.
Theo Kinh Dịch, phủ Bàng quang ứng với quẻ Kiền của Hậu thiên bát quái:
Nếu quẻ Khảm chiếm vị trí số 1, thì quẻ Kiền chiếm vị trí số 6. Nếu gọi số 5 là số thành thì “ Thiên nhất sinh Thủy, Địa lục thành Thủy”. Do đó, nếu thận thuộc thủy thì bàng quang cũng thuộc Thủy. Điều này nêu rõ quan hệ biểu lý giữa Thận và Bàng quang cũng thuộc Thủy. Điều này nêu rõ quan hệ biểu lý giữa Thận và Bàng quang.
Quẻ Kiền được giải nghĩa là nơi âm dương tranh chấp nhưng rồi cũng xuôi theo:
Bàng quang là nơi thủy thành. Thủy ở trong nhân thể là tân và dịch. Tân là trong thuộc dương, Dịch là đục thuộc âm. Ở tại Phủ Bàng quang, tân - dịch, âm dương lẫn lộn lẫn nhau, nhưng sau đó qua sự khí hóa của bàng quang mà thành nước tiểu, bài tiết ra ngoài. “Bàng quang giả châu đô chi quan, tân dịch tàng yên, khí hóa tắc năng xuất chi” (Linh Lan Bí Điển/Tố vấn).
Chức năng sinh lý tạng thận
Thận bao gồm Thận âm, Thận dương. Thận âm còn gọi là chân Âm, nguyên Âm, nguyên Thủy. Thận dương còn gọi là Thận khí, Thận hỏa, chân Dương, nguyên Dương, chân hỏa, mệnh môn hỏa.
Thận là gốc tiên thiên, nguồn gốc của sự sống (tiên thiên chi bản, sinh khí chi nguyên).
Ý nói Thận là cái được sinh thành, sẽ phát sinh phát triển, bao quát, quyết định xu hướng phát triển của con người.
Cái lập mệnh, cái sức sống của mỗi cá thể được quyết định bởi nơi Thận.
Cái sẽ được di truyền cho thế hệ sau, tạo cơ thể mới nằm ở nơi Thận.

ĐỞM LẠC KẾT THẠCH , CẢM NHIỄM (SỎI VÀ VIÊM ĐƯỜNG DẪN MẬT)

Đại cương
Theo quan điểm y học hiện đại
Cơ thể con người có khoảng 3 vạn tỷ tế bào gan. Mỗi tế bào gan có nhiều chức năng, trong đó chức năng quan trọng là tổng hợp axit mật (như: acid cholic, acid chenodesoxycholic) và tổng hợp muối mật. Khi vào ruột các chất này bị thủy phân để thực hiện quá trình tiêu hoá; đa phần muối mật, axit mật được tái hấp thu qua ruột và đến gan. Toàn bộ acid lithocholic được bài tiết ra theo phân.
Sỏi mật là loại sỏi cholesterol ; là hậu quả của quá trình tổng hợp bài tiết không đồng bộ một số chất: muối mật, lecithin và cholesterol của tế bào gan. Tình trạng bão hoà cholesterol kéo dài hoặc cholesterol bình thường nhưng muối mật và lecithin giảm thấp dẫn đến kết tủa cholesterol.
Tăng bài tiết cholesterol thường do chế độ ăn giàu calo và/hoặc do dùng một số thuốc: oetrogen, clofibrat. Một số bệnh lý ở ruột làm giảm chức năng hấp thu muối mật cũng dẫn đến gan giảm bài tiết muối mật; cũng có thể gan sản xuất muối mật giảm nhưng không tăng bài tiết cholesterol. Ngoài ra, bệnh lý sỏi mật còn liên quan đến tuổi cao, liên quan đến vai trò tái hấp thu nước làm cô đặc cholesterol và bài tiết chất mucus. Chất này cũng có tác dụng làm cholesterol và sắc tố mật kết tủa.
Sỏi mật là một bệnh phổ biến ở nước ta. Trong phạm vi các bệnh gan mật thì bệnh sỏi mật đứng hàng thứ 2 sau viêm gan các loại và là nguyên nhân quan trọng nhất của nhiễm khuẩn đường mật (90% các trường hợp). ở nước ta, sỏi đường mật lớn chiếm (95%), sỏi ở túi mật rất ít.

BỆNH HỌC TẠNG TÂM (TIỂU TRƯỜNG, TÂM BÀO, TAM TIÊU)

Chức năng sinh lý tậng tâm, tạng tâm bào, phủ tiểu trường, phủ tam tiêu)
Theo Kinh Dịch, tạng Tâm ứng với quẻ Ly của Hậu thiên bát quái. Quẻ Ly ở phương Nam (đối xứng với quẻ Ly ở phương Bắc là quẻ Khảm, ứng với tạng Thận).
Quẻ Ly được viết bởi 2 vạch liền (Dương) và chính giữa 1 vạch đứt (Âm), giống như cái bếp có miệng lò, gọi là LY TRUNG HƯ, cái đức của nó là sáng, là văn minh.
Quẻ Ly thuộc Hỏa, chỉ mùa hạ, Quẻ Khảm thuộc Thủy. Thủy và Hỏa là 2 dạng vật chất căn bản đầu tiên tạo nên vũ trụ cũng như sự sống của con người.
Biểu tượng của Ly là mặt trời, là lửa, là nóng, là sáng.
Tâm tượng Ly vì cùng thuộc Hỏa, mang thuộc tính của Hỏa là nóng, là sáng. Do đó, Tâm là nơi xuất phát của thần minh, sự sáng suốt minh mẫn của mỗi con người.
Theo kinh dịch, phủ Tiểu trường ứng với quẻ Kiền của Hậu thiên bát quái.
Quẻ Kiền tượng trưng cho ánh sáng rực rỡ, là sức nóng. Có nghĩa là Phủ Tiểu trường và tạng Tâm có cùng 1 tính chất với nhau, có mối quan hệ với nhau.
Quẻ Kiền lấy tượng mùa hè và báo hiệu là mùa thu sắp đến, bắt đầu cho chu kỳ âm. Do đó, nếu so sánh với quẻ Ly (Hỏa) của tạng Tâm, thì cái hỏa của Tiểu trường là do Tâm truyền qua. Quẻ Kiền là nơi âm dương tranh chấp nhưng rồi cũng xuôi theo. Ứng với quẻ Kiền, quẻ Kiền là nơi thanh dương trọc âm cùng lẫn lộn, nhưng Tiểu trường có chức năng thanh trọc, cho nên rồi thì thanh sẽ thăng mà trọc cũng giáng.
Sinh lý tạng tâm
Tâm thuộc Thiếu Âm, thuộc hành Hỏa. Tâm đứng đầu 12 khí quan nên gọi là “Thiếu Âm quân chủ”. Tâm có Tâm âm là Tâm huyết; Tâm dương là Tâm khí, Tâm hỏa.

BÀI ĐƯỢC QUAN TÂM NHIỀU

PHƯƠNG PHÁP VÀ CHẨN ĐOÁN ĐIỀU TRỊ ĐỘC ĐÁO CỦA YHCT

  Phương pháp chẩn đoán và điều trị độc đáo Y học cổ truyền Việt Nam sử dụng nhiều phương pháp chẩn đoán và điều trị độc đáo, mang tính toàn...

Kiến thức Đông Y