MẠCH PHÙ
- Mạch lý trong đông y quan trọng và khó học, người xưa xem mạch để bốc thuốc bắc, thuốc nam. Xét về dùng mạch để châm cứu, tạm thời chưa thấy sách vở nào viết cả. Học mạch khó một phần nữa là vì không thực hành thì quên hết, mà kể cả nếu thực hành đều đặn nhưng không có thầy chỉ dạy tường tận thì cũng khó mà học được.
- Từ trước tới giờ, trong các sách viết về châm cứu, thì chỉ nói về các bộ huyệt để chữa bệnh, không nói đến việc kết hợp mạch lý + bệnh lý + bộ huyệt một các logic, vậy khó có thể nói là có thể điều chỉnh được âm dương, khí huyết một cách có căn bản, và càng không thể nói là chữa gốc được tận gốc của bệnh. Châm cứu lục khí, sẽ nói về dùng mạch, xem mạch để châm cứu.
- Xét thấy các môn khoa học khác, ví dụ như toán học đều có hình vẽ, con số để giúp tư duy, diễn đạt, biểu thị rõ ràng, mạch lạc. Trước tới nay, mạch lý thường chỉ dùng từ ngữ dựa vào cảm nhận để diễn đạt, dẫn đến khó học, khó hành. Châm cứu lục khí sử dụng 8 loại quẻ để làm hình tượng cho việc học tập và nghiên cứu về mạch lý trong châm cứu.
- Lục khí = 3 dương: hỏa, kim, thử 3 dương nằm 3 góc tam giác đi lên. Hỏa tương ứng với mạch Phù (nổi). 3 góc tam giác chiều đi xuống biểu thị cho Âm = Thủy, mộc, thổ. Khi chữa bệnh bằng các phương pháp khác nhau mục đích chính là quân bình, hòa âm dương. Vậy khi Hỏa nhiều hoặc ít, thì ta phải cân bình Hỏa, chúng ta cân bình Hỏa với Thủy, Vậy Thủy phải biểu thị cho bộ mạch đi trầm. Nếu Thủy và Hỏa quân bình, thì 4 khí còn lại sẽ quân bình. Kim = mạch đại, Mộc = tế, thử = sác, Thổ = Trì. Tạo thành những cặp đối lập nhau.
- Chúng ta có 8 quẻ tượng: càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn, đoài. Trong 8 quẻ tượng, những quẻ nào đi nổi thì sẽ biểu thị cho hỏa, vậy là: quẻ càn, quẻ cấn, quẻ tốn, quẻ ly là 4 quẻ biểu thị cho mạch phù. Mạch phù là khí nhiều hơn -> mạch nổi trên da, mạch trầm huyết nhiều -> chìm xuống dưới.
Bài thơ về mạch PHÙ (nên học thuộc lòng toàn bộ bài thơ)
Bài thơ này Thầy Thảo được học từ người Thầy dạy mạch của mình.
Phù vi chủ biểu, thuộc phủ thuộc dương
Khinh thủ nhất chẩn, hình tượng chương chương
Phù nhi hữu lực, HỒNG mạch hỏa dương
Phù nhi vô lực, HƯ mạch khí thương
Phù nhi hư thậm, TÁN mạch phỉ thường
Phù nhi song quản, HỐNG mạch huyết ương
Phù nhi án cổ, CÁCH mạch ngoại cường
Phù nhi vi tế, NHU mạch thấp phương
Vậy trong mạch PHÙ chúng ta có 6 dạng mạch là: HỒNG – HƯ – TÁN – HỐNG – CÁCH – NHU
Chúng ta bắt đầu phân tích bài thơ để hiểu rõ về mạch PHÙ
- Phù vi chủ biểu, thuộc phủ thuộc dương, Kinh thủ nhất chẩn, hình tượng chương chương. Chúng ta có biểu, phủ, dương = đồng nghĩa, biểu là bên ngoài, phủ bên ngoài, dương cũng bên ngoài đối lập với chúng là lý, tạng, âm. 2 câu đầu giải thích mạch phù. Khi nói đến mạch phù, là nói đến lực từ 0 hạt đậu tới gần 6 hạt đậu vì đây là dạng mạch Dương. Lưu ý ở độ nhất chẩn, không phải là độ 0 hạt đậu mà là ở dưới 0 hạt đậu khoảng 1/2-1/4 hạt đậu, bởi vì hình tượng nổi lên ở độ nhất chẩn mà thấy có thì mới gọi là phù. Ở 0 hạt đậu mà thấy mạch, tức là mạch bệnh rồi và vẫn gọi là mạch phù. Mạch phù ở bình thường- nhất chẩn thì là mạch phù không có bệnh. Vậy qua 2 câu đầu của bài thơ, xác nhận khi xem mạch của phần Dương (biểu, phủ) từ mức 0 đến 6 hạt đậu. Chúng ta có 4 hình tượng của mạch PHÙ là 4 dạng quẻ: CÀN – TỐN – CẤN – LY
- Phù nhi hữu lựu, Hồng mạch hỏa dương: mạch phù, có lực gọi là mạch Hồng, hỏa dương tức là hỏa nhiều. Hữu lực là gì: khi nhấn xuống từ từ mà mạch vẫn còn hiện hữu mạnh mẽ như vậy, không giảm từ dưới 0 đến trước 6 hạt đậu thì là mạch Hồng hữu lực. Mạch Hồng thuộc quẻ Càn, bệnh nhẹ
- Phù nhi vô lực, Hư mạch khí thương: lực yếu đi khi nhấn tay từ trên xuống dưới, khí đã bị tổn thương, khí thoát, tượng quẻ Tốn thuộc quẻ hư. Phần trung án, mức 3 hạt đậu của phần dương vẫn hiện hữu, bệnh chưa nặng lắm
- Phù nhi hư thậm, TÁN mạch phỉ thường. Khí tổn thương rất nhiều, quẻ Cấn biểu thị cho quẻ tán, ấn xuống mức 3 hạt đậu cũng mất, tức là trung án của phần dương cũng bị tổn thương
- Phù nhi song quản, HỐNG mạch huyết ương: Hống là rỗng ở giữa, biểu thị cho loại mạch này là quẻ Ly. Lực trung án của phần dương không hiện hữu, nhưng lực xơ án, trọng án của phần dương thì vẫn còn. Huyết ương, là huyết thiếu, huyết giảm, do huyết mất khì khí mất, khí đi lên làm phù, huyết đi xuống làm thành mạch trầm, khí huyết không lưu thông. Đây là trường hợp cả phần khí và huyết đều bị tổn thương, nên đây là bệnh nặng
- Phù nhi án cổ, CÁCH mạch ngoại cường: Án cổ là mặt trống, nhấn tay xuống mạch cứng như mặt trống. Càng cứng thì bệnh càng nặng Xơ án đến trọng án của phần dương, nhấn tay xống cứng, biểu thị tà khí bên ngoài đang tấn công vào. Mạch có thể đi theo 4 dạng trên và kết hợp với mạch đi cứng, vậy ta có Hồng cách, hư cách, tán cách, hống cách. Mạch nào đi kèm với cách, thì đều nói lên bệnh nặng hơn
- Phù nhi vi tế, NHU mạch thấp phương: Mạch nhu là nhỏ và mềm, thấp phương tức là do phong sinh ra. Nhu tức là không thể đi theo mạch cách được. Mạch nhu hoàn toàn có thể đi kèm theo 4 dạng mạch còn lại. Đi theo quẻ càn, thì phong nhẹ, đi theo quẻ tốn thì nặng hơn xíu, đi theo quẻ cấn thì nặng hơn nữa, đi theo quẻ hống thì nặng hơn. Tuy nhiên, mạch đi nhu thì bệnh dễ chữa.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét