Thứ Năm, 29 tháng 6, 2017

Thứ Tư, 14 tháng 6, 2017

ĐỪNG CHỦ QUAN KHI BỖNG NHIÊN BỊ ĐAU MU BÀN CHÂN HOẶC NGÓN CHÂN CÁI

Hiện nay có rất nhiều người đang gặp phải các triệu chứng đau nhức xương mu bàn chân và khớp ngón chân cái nhưng không biết đó là bệnh gì. Nhiều người còn chủ quan cứ để tình trạng đó kéo dài mà không hề có bất cứ biện pháp điều trị nào. Theo các bác sĩ, khi gặp phải các dấu hiệu như vậy, người bệnh không nên chủ quan vì chúng có thể là biểu hiện của các bệnh nghiêm trọng cần được chữa trị kịp thời, nhanh chóng.

Đau nhức xương mu bàn chân là bệnh gì?

Đau nhức xương mu bàn chân có nguyên nhân thường thấy nhất là do các bệnh lý về cơ xương khớp như bệnh viêm khớp (viêm khớp dạng thấp, viêm khớp gout, viêm khớp do quá tải…), thoái hóa khớp,… thường phổ biến gây ra các chứng đau nhức xương ở nhiều vi trí khác nhau như bàn chân, ngón chân, đầu gối, mắt cá chân, tay. Đau cũng có thể do bệnh về giãn dây chẳng, quá tải gân cơ do hoạt động mạnh hoặc do chấn thương.
Ngoài ra, đau xương mu bàn chân cũng có thể là biểu hiện của nhiều bệnh khác nhau liên quan đến mạch máu hay dây thần kinh:

Cách chữa thoát vị đĩa đệm từ cây ngải cứu

Ngải cứu là một trong những loại thảo dược có tác dụng giảm đau, chống sưng viêm được Y học cổ truyền công nhận mang đến hiệu quả cao trong việc điều trị các bệnh xương khớp. Đặc biệt, cách chữa thoát vị đĩa đệm từ cây ngải cứu là phương pháp an toàn được áp dụng phổ biến trong việc điều trị căn bệnh này.
Với phương pháp chữa thoát vị đĩa đệm bằng ngải cứu, chúng ta cần phối hợp hai bài thuốc uống và thuốc đắp để chữa mang lại hiệu quả nhanh.
1. Bài thuốc uống từ ngải cứu

Chữa bệnh xương khớp bằng lá lốt

Các bệnh lý về xương khớp rất hay gặp trong cuộc sống thường ngày.Bạn có thể bị đau lưng nhất thời do lao động hay bị đau nhức xương khớp do một vài tình trạng bệnh lý như thoái hoá khớp, viêm khớp…Để tạm thời đối phó với những cơn đau nhất thời này thì chúng ta có rất nhiều cách Hiện nay có rất nhiều phương pháp dân gian chữa bệnh xương khớp khá hiệu quả. Trong đó chúng ta không thể không nhắc đến các bài thuốc từ lá lốt. Đây là một vị thuốc phổ biến trong đông y và được nhiều người sử dụng trong các món ăn nhằm tăng thêm hương vị và phòng chữa nhiều bệnh.

BẤM HUYỆT TRỊ CHUỘT RÚT

Chuột rút là hiện tượng khá phổ biến và thường gặp khiến nhiều người cảm thấy đau tê tái và không thể cử động. Tham khảo một số thủ thuật bấm huyệt chữa chứng chuột rút sau đây sẽ giúp bạn khắc phục được cơn đau hiệu quả và hoạt động lại bình thường.

Nguyên nhân gây ra chứng chuột rút

Chuột rút còn được gọi là chứng vọp bẻ, là tình trạng cơ bắp co thắt đột ngột và gây đau khiến người bệnh không thể cử động ngay tại thời điểm bị chuột rút. Chuột rút có thể xảy ra ở mọi cơ bắp thịt trên cơ thể nhưng thường xảy ra nhất ở bắp đùi, cẳng chân, bàn tay, bàn chân hay cơ bụng. Những người thường dễ bị chuột rút nhất là người chơi thể thao, leo núi, phụ nữ mang thai, người cao tuổi…
Có nhiều nguyên nhân khiến chúng ta bị chuột rút như:
– Do lao động hoặc tập tập luyện quá mức với cường độ cao.
– Vận động đột ngột mà không khởi động cơ thể kỹ càng.
– Đứng hoặc ngồi lâu, nằm ngủ không đúng tư thế khiến cơ bắp bị mỏi.
– Thiếu nước, thiếu khoáng như canxi, kali, magie…
– Bị chuột rút do mang thai.
– Bị ngộ độc chì.
– Do các bệnh lý về tuyến giáp, giãn tĩnh mạch chi dưới, bệnh viêm dây thần kinh, Parkinson, thiếu máu, tiểu đường hoặc do bàn chân phẳng…

BÀI THUỐC TRỊ VIÊM XOANG

Thuốc uống:
 Bài 1: Lục thần tán gia giảm: nhâm sâm 6g, bạch truật 8g, phục linh 8g, cam thảo (chích) 4g, biển đậu 6g, hoàng kỳ 6g, hoàng cầm 5g, hạnh nhân 5g, bối mẫu 6g, liên kiều 5g, gừng tươi 3 lát, đại táo 3 quả. Sắc uống.
Bài 2: nhân sâm 4g, bạch truật 8g, phục linh 8g, cam thảo (chích) 4g, biển đậu 6g, hoàng kỳ 6g, sinh địa 8g, huyền sâm 6g, đan bì 6g, mạch môn 6g, kim ngân 8g, ké đầu ngựa 8g, tân di 4g, hoàng cầm 6g. Sắc uống.
Bài 3: Ích khí tổng minh thang gia giảm: hoàng kỳ 10g, nhân sâm 10g, cát cánh 6g, mạn kinh tử 6g, bạch thược 5g, hoàng liên 3g, cam thảo 3g, thăng ma 5g, thạch xương bồ 5g, liên kiều 5g, la bạc tử 5g, bối mẫu 4g, hoàng cầm 5g. Sắc uống. Chữa chảy nước mũi đặc nhiều không dừng, nước mũi màu vàng đặc hoặc lẫn màu xanh.
Thuốc dùng tại chỗ:
Thuốc cam xanh (thanh đại) 0,39g, ngũ bội tử 0,1g, bạch phàn 0,1g, mai hoa băng phiến vừa đủ 0,6g. Đây là loại thuốc cam không có chì, được Bộ Y tế Việt Nam cấp phép lưu hành, có ở các quầy thuốc. Dùng nước nhỏ mũi mắt natri clorid 0,9% để rửa sạch hai lỗ mũi, thấm khô. Lấy tăm bông thấm bột thuốc, bôi sâu vào trong 2 lỗ mũi. Ngày 1 lần, cách 2 ngày dùng thuốc 1 lần.

Thứ Ba, 13 tháng 6, 2017

Một số bài thuốc trị chai chân hiệu quả

Chai chân (clavus), hay còn gọi là mắt cá chân, là tình trạng tăng sinh dày lớp thượng bì nhất là lớp sừng, thường gặp ở các điểm tì ép nhiều trong lòng bàn chân như gót chân, các điểm đối diện với ngón chân 3 và 5, có khi ở lưng ngón chân. Tổn thương nổi thành từng đám dày sừng, màu vàng sẫm, ở giữa có ‘‘nhân’’, ấn vào đau chói. Bệnh không nguy hiểm nhưng gây nhiều phiền toái vì ảnh hưởng đến việc đi lại do đau đớn, đặc biệt là mắt cá ở gót chân.
Để chữa trị bệnh này, Tây y thường băng mỡ salixilic 5 – 20%, gọt bỏ lớp sừng, đốt điện hoặc khoét bỏ bằng phẫu thuật nhưng chỉ mang lại kết quả tạm thời, nhiều khi vẫn tái phát hoặc để lại sẹo xơ hóa to hơn, ấn vào vẫn đau chói.
Trong Đông y, chai chân thuộc phạm vi các chứng bệnh như: nhục chích, kê nhãn…, được xử lý đơn giản bằng một số phương pháp như:
Hồng hoa 3g, địa cốt bì 6g, tán bột trộn với dầu vừng và một chút bột mì thành dạng cao rồi đắp lên tổn thương.
Ô mai 30g sấy khô, tán vụn, đem ngâm với 250ml giấm chua trong 2 tuần rồi lấy dịch thuốc bôi vào tổn thương mỗi ngày 3 lần.
Trần bì 15g, cẩu tích 30g, uy linh tiên 30g, địa phu tử 30g, hồng hoa 10g, sắc lấy nước ngâm chân khi còn nóng, mỗi ngày 2 lần. Mỗi thang có thể dùng 3 – 4 lần.
d515a chai chan be0cd Một số bài thuốc trị chai chân hiệu quả
Tổn thương chai chân.

Bài thuốc hỗ trợ chữa liệt dây thần kinh VII hiệu quả

Liệt dây thần kinh VII Ðông y gọi là “khẩu nhãn oa tà”. Ðây là tình trạng trúng phong ở kinh lạc. Nguyên nhân do phong hàn xâm nhập kinh lạc, làm cho khí huyết trở trệ, kinh lạc bế tắc mà gây ra…
Nguyên tắc chữa trị là ôn kinh tán hàn, dẹp phong dưỡng huyết. Bệnh nhân nếu được điều trị sớm, kết hợp các phương pháp trị liệu sẽ đem lại hiệu quả cao.
Thuốc uống: dùng một trong các bài.
Bài 1: phòng phong 10g, kinh giới 12g, lá lốt 12g, nam tục đoạn 16g, đơn đại hoàng 12g, tang ký sinh 16g, quế chi 8g, thiên niên kiện 10g, phòng sâm 12g, hoàng kỳ 12g, bạch truật 16g, sinh khương 4g, kê huyết đằng 12g, trần bì 10g. Sắc uống ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần. Công dụng: ôn kinh tán hàn, thông hoạt kinh lạc.

Chữa trúng phong, méo miệng

Khi thời tiết trong ngày thay đổi thất thường, buổi sáng và chiều tối trời se lạnh, nhiều sương hoặc mưa, gió rất dễ bị trúng gió, hay gặp nhất là trúng phong méo miệng. Xin giới thiệu một số bài thuốc Nam chữa trị căn bệnh này để bạn đọc tham khảo áp dụng.
 33b06 43kinh gioi Chữa trúng phong, méo miệng

MẠCH LÝ Y HỌC CỔ TRUYỀN

PHÂN LOẠI MẠCH

Có nhiều cách phân chia các loại mạch, tùy quan điểm của các tác giả hoặc  các trường phái.Trong tài liệu này, để rộng đường tham khảo, chúmg tôi trình bày các cách phân chia mạch theo các trường phái lớn để dễ nghiên cứu:
- Theo ‘Nội Kinh’ (được coi là cổ nhất): Sách ‘Y Nguyên’ ghi: “Tinh xác của phép chẩn mạch không ai hơn sách ‘Nội Kinh’. Nội Kinh lấy 8 mạch PHÙ, TRẦM, HOÃN, CẤP, ĐẠI, TIỂU, HOẠT, SÁC để biện về biểu, lý, hàn, nhiệt, hư, thực, thuận, nghịch (Vì) mọi mạch Phù là bệnh ở dương, mọi mạch Trầm là bệnh ở âm, mọi mạch Cấp thì phần nhiều hàn, mọi mạch Hoãn thì phần nhiều nhiệt. Mạch Đại nhiều khí huyết, mạch Tiểu thì khí huyết đều ít. Hoạt là dương khí thịnh, Sác là âm huyết bị thiếu. Tức là trong 8 mạch phân ra làm 3 mức tương phản nhau (như loại Phù, Trầm, Hoạt, Sác), nhiều ít (như loại hơi Phù, Phù nhiều, hơi Trầm, Trầm nhiều), huyền tuyệt (như loại thái quá đến cấp 3, cấp 4 hoặc bất cập chỉ 1 chí, 2 chí, mất hẳn... ) để xét bệnh tiến thoái, thuận nghịch, sống chết, lại không tinh và gọn hay sao?”
- Thiên ‘Bát Mạch Yếu Chỉ Vi Cương” trong Cảnh Nhạc Toàn Thư chia 28 mạch ra làm 8 loại mạch chính là Phù, Trầm, Trì, Tế, Sác, Đại, Đoản, Trường còn 20 mạch kia thì quy nạp vào với 8 mạch chính này, gọi là kiêm mạch.
- Sách ‘Lục Mạch Cương Lĩnh’ của Hoạt Thọ lại lấy  6 mạch làm gốc: Phù, Trầm, Trì, Sác, Hoạt, Sáp theo bảng dưới đây:

MẠCH LÝ Y HỌC CỔ TRUYỀN

CÁCH PHÂN BIỆT MẠCH:

MẠCH ĐOẢN VÀ ĐỘNG

·  Đoản là mạch âm, không đầu, không đuôi, mạch đến trì trệ.
Động là mạch dương, không đầu, không đuôi, mạch đến nhanh và trơn.

MẠCH HỒNG VÀ THỰC

·  Mạch Hồng tựa như nước lụt, to, tràn đầy đầu ngón tay, nặng tay hơi giảm.
·  Mạch Thực thì chắc nịch, ứng dưới tay có lực, nặng nhẹ tay đều vẫn thấy như vậy.

MẠCH HUYỀN VÀ TRƯỜNG

·  Huyền giống như dây cung, căng thẳng, cứng đều mà không dội vào tay.
·  Mạch Trường như cây sào, vượt qua cả vị trí gốc mà lại không dội vào tay.

MẠCH PHÙ

      PHÙ mạch chủ phủ, biểu, dương

Nhẹ tay đã thấy mạch tường phần minh
      PHÙ gồm sáu mạch định hình
     HƯ thì vô lực nhẹ tơ
HỒNG thì hữu lực hỏa vinh dư thừa
Chính khí suy yếu lựa cơ bổ liền
Nhẹ tay đã thấy nặng liền mất ngay
     TÁN thì khí thoát triền miên
     HỐNG mạch song quản lạ thay
Nặng như mắt trống nhất thì chữa ngay
Ngoài da xuất huyết thấy ngay tức thì
     CÁCH mạch mà hiện thì nguy
Nhưng thêm TÁN, CÁCH thế nào cũng nguy
     NHU thì mềm nhỏ tơ dây
Trúng phong đã đến không hay lúc nào
     Thông minh khéo dụng tư duy
     HỒNG, HƯ, NHU, HỐNG không sao
Châm cứu LỤC KHÍ bệnh gì cũng tan

ĐẠI CƯƠNG VỀ THUỐC ĐÔNG Y

Thuốc YHCT có nguồn gốc tự nhiên gồm các loại thực vật, động vật, khoáng vật xuất hiện từ kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh với bệnh tật của nhân dân mà tìm ra. Nguồn dược liệu tự nhiêu ngày càng cạn kiệt do vậy phải gieo trồng, thu hái và chăn nuôi để tạo ra nguyên liệu. Để sử dụng thuốc cần có sự hiểu biết nhất định về quá trình bào chế, tính năng dược vật, sự quy kinh, phối ngũ và kiêng kỵ đảm bảo hiệu quả và an toàn.
I. NGUỒN GỐC
Thuốc YHCT gồm các loại thực vật, động vật, khoáng vật và một số chế phẩm hoá học.
 Sự xuất hiện của thuốc là do kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh với bệnh tật của nhân dân mà tìm ra. Số lượng, chất lượng tiến bộ theo sự phát triển của nền sản xuất của xã hội.
 Thời nguyên thuỷ, thực vật hay động vật do nguồn tự nhiêu cung cấp, sau thiếu dần phải gieo trồng, thu hái và chăn nuôi. Các loại thuốc khoáng vật pháp triển theo nguồn khai thác mỏ như thạch cao, chu sa, hùng hoàng…
 Ở nước ta, trước khi có nền y tế Xã hội chủ nghĩa, các thuốc thường dùng đều phải nhập. Hiện nay ta đã tìm và xác định theo khoa học được nhiều cây thuốc có trong nước, một số thuốc đã di thực được như: sinh địa, bạch truật, huyền sâm, bạch chỉ… Một số vị thuốc do điều kiện đất đai, thổ nhưỡng chưa di thực được còn phải nhập.

BẤM HUYỆT CHỮA NGẤT

Ngất là trạng thái mất ý thức một cách đột ngột, thoảng qua. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến ngất như bị xúc cảm quá mạnh, say nắng, say nóng, chấn thương, mất máu nhiều, thiếu ôxy, mắc bệnh tim mạch…
Biểu hiện là người bệnh tự nhiên thấy choáng váng, hoa mắt, chóng mặt, ù tai... rồi ngã ra; có khi toát mồ hôi, da nhợt nhạt, chân tay lạnh. Tuần hoàn và hô hấp ngừng hoặc rất yếu, huyết áp hạ, đồng tử giãn.Tất cả các dấu hiệu trên diễn biến nhanh trong thời gian ngắn rồi bệnh nhân hồi tỉnh.

Trong lúc khẩn cấp, không có bác sĩ hoặc bệnh viện ở xa, có thể tiến hành sơ cứu cho người bệnh bị ngất bằng các thao tác sau:

DÙNG NHA ĐAM ĐÚNG CÁCH, TRỊ DỨT TIỂU ĐƯỜNG 100%

Uống mỗi ngày hai cốc loại trung bình (cốc uống bia) nước ép nha đam vào hai buổi sáng và tối liền 3 tháng là bí quyết khỏi bệnh tiểu đường.

VIÊM TẮC TIA SỮA

Biểu hiện thường gặp nhất của bệnh là hai vú cương cứng, đau, nóng..., có thể kèm theo sốt vừa hoặc sốt cao. Nếu không chữa kịp thời, người mẹ có thể bị áp xe vú, mất sữa...

Chữa đầy bụng khó tiêu bằng xoa bóp bấm huyệt

Chứng đầy bụng khó tiêu - một chứng bệnh thường gặp có ảnh hưởng chủ yếu bởi thói quen tiêu hóa, ngày nay đã không chỉ còn là vấn đề của tuổi già.
 
Thực tế cho thấy ngày càng có nhiều người bệnh trẻ tuổi đến gặp bác sĩ với những than phiền về tình trạng đầy bụng, chậm tiêu, ăn kém ngon miệng...
Theo YHCT, biểu hiện của chứng đầy bụng khó tiêu có thể xếp vào các chứng vị quản thống (đau dạ dày), ấu thổ (nôn mửa). Theo kinh nghiệm người xưa, châm cứu là một trong những phương pháp mang lại hiệu quả cao.

Xoa bóp chữa vẹo cổ

Biểu hiện của bệnh là sáng ngủ dậy thấy cổ bị căng cứng và rất đau, đầu bị vẹo, khó quay và cúi, thậm chí đau lan xuống cả vai, cánh tay khiến cho cổ phải nghiêng về một bên, cơ vùng cổ co cứng, ấn đau.
   Vẹo cổ, đông y còn gọi là thất chẩm hay lạc chẩm. Nguyên nhân là do tư thế gối đầu không hợp lý khi ngủ, hoặc cao quá hoặc thấp qua, hoặc gối đầu quá cứng làm cho khí huyết không điều hoà, cơ cổ bị kéo giãn quá lâu, đầu bị vẹo về một bên; do lao động quá  sức kéo dài, người yếu; hoặc do phong hàn xâm nhập vào kinh lạc làm cho kinh khí bị ngăn trở; ngoài ra, tình trạng thoái hoá cột sống cổ cũng là những yếu tố góp phần làm bệnh phát sinh hoặc nặng thêm.
Biểu hiện của bệnh là sáng ngủ dậy thấy cổ bị căng cứng và rất đau, đầu bị vẹo, khó quay và cúi, thậm chí đau lan xuống cả vai, cánh tay khiến cho cổ phải nghiêng về một bên, cơ vùng cổ co cứng, ấn đau. Nếu nặng có thể đau nhức cả cánh tay và ngực phía cổ vẹo. Những ngày đầu rất đau và kéo dài vài tuần nếu không điều trị sớm. Với tác dụng thông hoạt lạc chỉ thống, xoa bóp bấm huyệt của Đông y là biện pháp đơn giản nhưng rất hiệu quả để trị chứng bệnh khó chịu này. Xin giới thiệu để bạn đọc tham khảo áp dụng.

Xoa bóp bấm huyệt chữa liệt mặt

Đông y gọi liệt mặt ngoại biên hay liệt dây thần kinh 7 ngoại biên là trúng phong hay miệng méo mắt xệch. Nguyên nhân của bệnh là do nóng trong, đêm nằm bị tà xâm nhập mà gây ra bệnh.
Biểu hiện: Sau ngủ dậy, người bệnh thấy mặt mũi méo xệch về một bên (nhân trung lệch, mắt nhắm không kín...). Nguyên tắc trị liệu là khử phong tản tà, thư gân hoạt huyết. Có thể dùng các biện pháp châm cứu, xoa bóp bấm huyệt. Trong đó phương pháp xoa bấm huyệt có tác dụng trị liệu bệnh này tương đối hiệu quả.

Phương pháp uống nước lọc chữa bịnh của người Nhật

Qúy vị nên thận trọng và không nên áp dụng phương pháp uống nước lọc này nếu qúy vị ở trong những trường hợp và bịnh sau đây:
- Bị mổ tim: Sau khi mổ tim, thường các bịnh nhân đều phải kiêng muối và nước (tính luôn nước từ cả thức ăn và các chất lỏng khác), riêng nước thì hạn chế chỉ được 800 ml đến 1200 ml (khoảng hai chai nuớc suối nhỏ)
- Bị thấp áp huyết: Quý vị nên quan sát và kiểm tra áp huyết của mình
- Bị xuống đường, bị suy kiệt dinh dưỡng: Khi uống nhiều lượng nước, lượng đường của bạn sẽ xuống thấp thêm, máu sẽ loãng thêm. Xin hãy để ý
- Nếu bạn bị các chứng bịnh phải kiêng nước, bạn nên thận trọng.
Uống nước lọc với bụng đói

Xoa bóp bấm huyệt trị sụp mi

Sụp mi mắt là tình trạng cơ mi suy giảm trương lực gây che kín mắt không mở ra được, làm ảnh hưởng đến thị lực. Nguyên nhân do tiên thiên hoặc hậu thiên bất túc khiến tỳ vị không điều hòa, khí huyết không được nuôi dưỡng, phong tà thừa cơ xâm nhập, nhục luân không được nuôi dưỡng, mạch lạc ngưng trệ gây nên bệnh.

Điều trị đau vai gáy bằng xoa bóp bấm huyệt

Ấn vào các cơ thang và cơ ức đòn chũm thấy đau và co cứng vồng lên so với bên lành. Toàn thân sợ lạnh, rêu lưỡi trắng, mạch phù. Đau vai gáy là một bệnh hay gặp trong lâm sàng, gây đau nhức khó chịu, ảnh hưởng đến sức khỏe và công tác của người bệnh.

LƯ SƠN MẠCH PHÚ

Mạch lý nhiệm màu Bệnh cơ kỳ thú Dù muôn hình biểu hiện rối ren, Đem bát yếu tóm thâu đầy đủ.
Lư sơn mạch phú
 
của Nguyễn Đình Chiểu
(Bệnh cơ bát yếu tổng mạch)
Từng nghe :
Mạch lý nhiệm màu
Bệnh cơ kỳ thú
Dù muôn hình biểu hiện rối ren,
Đem bát yếu tóm thâu đầy đủ.
Xem mạch tượng Phù trầm để phân biệt biểu lý; có lực là thực, không lực là hư;
Đếm nhịp đi trì sác để biết nhiệt hàn; dương chứng thì to, âm chứng thì nhỏ.

QUAN HỆ GIỮA MẠCH VÀ CÁC YẾU TỐ TRONG NGOÀI

Mọi vật bắt đầu thu lại, lá cây khô đi và rụng giống như lông, do đó mạch của mùa thu là mạch Mao.
 1- Quan Hệ Giữa Mạch Và Ngũ Hành
Dùng ngũ hành áp dụng vào mạch ta thấy:

Tay Bên TRÁI: Thận thủy (bộ xích) sinh Can mộc (quan), can mộc sinh Tâm hỏa (thốn).

Tay Bên PHẢI: Mệnh môn hỏa (bộ xích) sinh Tỳ thổ (quan), tỳ thổ sinh Phế kim (thốn).

MẠCH PHỤ NỮ

Phụ nữ mạch ở 2 bộ quan và xích bên trái bỗng nhiên thấy mạch Hồng Đại hơn bên phải, miệng không đắng, cơ thể không sốt, bụng không trướng là sắp sửa hành kinh.

I- MẠCH THỜI KỲ KINH
HÀNH KINH:
Phụ nữ mạch ở 2 bộ quan và xích bên trái bỗng nhiên thấy mạch Hồng Đại hơn bên phải, miệng không đắng, cơ thể không sốt, bụng không trướng là sắp sửa hành kinh.
Mạch ở 2 bộ thốn và quan đều hoạt mà mạch ở bộ xích không đến, phần nhiều là kinh nguyệt không thông.
Mạch bộ thốn và quan bình thường mà mạch bộ xích tuyệt hoặc không tuyệt mà Nhược, Tiểu thì kinh nguyệt không thông
Mạch 3 bộ Trầm Hoản là hạ bộ hư nhược thì hẳn là kinh nguyệt tháng đó quá nhiều.
Mạch Hư Vi mà không có mồ hôi thì 2 tháng mới hành kinh 1 lần.
Mạch cả 3 bộ đều Phù hoặc Trầm mà trong khi Phù hoặc Trầm đó đôi khi lại ngừng hoặc mạch bộ thốn và quan Vi Sáp,
Mạch bộ xích Vi Trì đó là mạch 3 tháng mới hành kinh 1 lần.
Mạch 3 bộ thấy Hư Vi thì kinh nguyệt không thông.

THẬP QUÁI MẠCH ( 10 MẠCH LẠ )



Sóng mạch đi lúc nhúc như nước trong nồi (phuû) đang sôi (phí). Biểu hiện của mạch chết.
1- ĐẠN THẠCH
Sóng mạch đi như đập vào đá (thạch), chỉ thấy đập vài cái rồi thôi không thấy nữa.
Biểu hiện của mạch Phế bị tuyệt. Nếu thấy ở bộ xích bên trái (tả xích) là dấu hiệu Thận sắp bị tuyệt.
2- GIẢI SÁCH 
Sóng mạch đi rối loạn, tản mác giống như mớ dây (giải) bị rối (sách).
Biểu hiện của Ngũ Tạng bị tuyệt. Nếu thấy ở bộ xích bên trái (tả xích) là dấu hiệu thổ khắc thủy.

TAM TƯỢNG MẠCH

Mạch Đại chủ tà nhiệt cảm nặng, thấp nhiệt, tích khí, ho suyễn, trường tiết, khí đưa nghịch lên làm mặt bị phù, hư lao nội thương
1 . MẠCH ĐẠI
Đại là to lớn.
HÌNH TƯỢNG
Mạch Đại, rộng và to khác thường, chỉ không cuồn cuộn như mạch Hồng mà thôi .Mạch tràn đầy, ứng dưới ngón tay lớn .
Mạch Đại... sức mạnh đi phù án thì như nước nổi lên tràn đầy dưới ngón tay mà trầm án thì lại lan rộng  ra mà mềm yếu đi, tức là phù án thì hữu lực còn trầm án thì vô lực”.                   CHỦ BỆNH

CỬU ĐẠO MẠCH

Do khí hư không vận chuyển được huyết, mạch khí hư, huyết hư không thúc đẩy được huyết mạch, cho nên ấn tay xuống thấy trống rỗng.
1. MẠCH HƯ
Hư là không Thực, nghĩa là ở giữa bất túc,nhược mà không lực, vì vậy gọi là Hư. Mạch Đại như cũ mà không cứng là hư
HÌNH TƯỢNG Mạch Hư là tổng hợp 4 mạch , ấn vào không thấy, Phù,Trì, Đại mà Nhuyễn, đè tay xuống, nhấc tay lên đều thấy trống không . 
Mạch Hư, 3 bộ mạch ấn nhẹ tay thì vô lực, ấn nặng tay thì mất.
NGUYÊN NHÂN 
Khí không đủ để khua động huyết thì mạch đến vô lực (hư)- Huyết không đủ để nuôi dương khí thì mạch cũng Hư.
Do khí hư không vận chuyển được huyết, mạch khí hư, huyết hư không thúc đẩy được huyết mạch, cho nên ấn tay xuống thấy trống rỗng. Do khí hư không thu liễm được nên mạch khí tràn ra ngoài. Huyết hư, khí không phù trợ được nên phù ra ngoài, vì vậy bắt mạch thấy lớn mà nhuyễn.     
CHỦ BỆNH

THẤT BIỂU MẠCH

Mạch Phù là mạch dương, là mạch đi ở trên thịt, nhấc tay lên thì có dư, ấn tay xuống thì không đủ, đè xuống thì hơi giảm nhưng không rỗng, nhấc lên thì nổi phù lên mà đi lưu lợi.
1. MẠCH PHÙ 
Mạch Phù cũng là mạch Mao. Mạch mùa Thu tức là mạch của Phế, thuộc phương tây, muôn vật nhờ đó tới kỳ thu thành, vì vậy khi đến thì nhẹ, hư mà Phù, khi đến thì gấp, lúc đi thì tan tác,.Phù là nổi,  Mạch lúc nào cũng nổi sát ở da vì vậy gọi là mạch Phù.
MẠCH TƯỢNG 
Mạch Phù là mạch dương, là mạch đi ở trên thịt, nhấc tay lên thì có dư, ấn tay xuống thì không đủ, đè xuống thì hơi giảm nhưng không rỗng, nhấc lên thì nổi phù lên mà đi lưu lợi.Mạch Phù đi nổi ở ngoài mặt da, ấn nhẹ thấy ứng ngay ở ngón tay 
NGUYÊN NHÂN 

BÁT LÝ MẠCH

Mạch Trầm ấn tay xuống thì không đủ, nhấc lên thì có dư. đi chìm ở khoảng gân xương, đặt nhẹ tay không thấy, nặng tay mới thấy,
1.MẠCH TRẦM  
- Trầm là chìm, mạch luôn chìm sâu dưới da, vì vậy gọi là Trầm.Mạch Trầm là mạch của mùa đông, tức là mạch của Thận, thuộc phương Bắc, hành thủy, muôn vật nhờ đó mà bế tàng, vì vậy mạch khí lúc đến thì Trầm mà bật mạnh lên, mạch Thận Trầm vì vậy mạch Trầm cũng gọi là mạch Thạch
MẠCH TƯỢNG 
Mạch Trầm ấn tay xuống thì không đủ, nhấc lên thì có dư. đi chìm ở khoảng gân xương, đặt nhẹ tay không thấy, nặng tay mới thấy,
NGUYÊN NHÂN 
Hàn khí bên ngoài xâm nhập vào sâu, bó lấy kinh lạc, làm cho mạch khí không thông đạt, sẽ xuất hiện mạch Trầm.
Mạch Trầm là âm khí quyết nghịch dương khí không được thư sướng... Mạch Trầm là âm tà quá dư làm cho huyết khí ngưng đọng không phấn chấn...
Nếu bệnh tụ ở dưới, ở phần lý, ắt sẽ thấy mạch Trầm.
Tà uất ở phần lý, khí huyết ngưng trệ thì mạch Trầm mà có lực. Dương khí hư hãm xuống không thăng lên được thì mạch Trầm mà không có lực.

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT TRONG PHƯƠNG PHÁP CHẨN MẠCH ĐÔNG Y

Chẩn mạch thường vào lúc sáng sớm, âm khí chưa động, dương khí chưa tán, chưa ăn uống gì, kinh mạch chưa đầy, lạc mạch điều hòa, khí huyết chưa loạn, do đó, có thể tìm thấy mạch bệnh.
1- Thời Gian Xem Mạch
    Chẩn mạch thường vào lúc sáng sớm, âm khí chưa động, dương khí chưa tán, chưa ăn uống gì, kinh mạch chưa đầy, lạc mạch điều hòa, khí huyết chưa loạn, do đó, có thể tìm thấy mạch bệnh.Tuy nhiên nếu gặp bệnh thì bất cứ lúc nào cũng có thể chẩn mạch, không cần phảI  chẩn mạch vào lúc sáng sớm.
- Trước khi chẩn mạch, nên để cho người bệnh nghĩ 1 lát cho khí huyết được điều hòa.
- Không nên xem mạch khi người bệnh ăn uống qúa no, đói qúa hoặc mới uống rượu, đi xa đến mà mệt mỏi...
- Ngoài ra, ống tay áo người bệnh quá chật, hoàn cảnh chung quanh ồn ào... cũng có thể ảnh hưởng đến việc chẩn mạch.

NGŨ HÀNH TRỊ LIỆU (PHẦN 3): Tả Hỏa bổ Thủy - Chữa mất ngủ nghiêm trọng


1. Mất ngủ nghiêm trọng & Tâm thận bất giao:
    Giấc ngủ chiếm 1/3 thời gian của cuộc đời. Đó là một một tỷ lệ rất lớn, chứng tỏ giấc ngủ có vai trò cực kỳ quan trọng trong đời sống của mỗi con người. Từ xưa, Đông y đã nhận thức được vai trò quan trọng của giấc ngủ đối với sức khỏe và bệnh tật, cho nên đã sớm chú ý đến những vấn đề liên quan đến giấc ngủ, đồng thời tìm ra nhiều biện pháp, phương thuốc chữa trị hữu hiệu các chứng bệnh liên quan đến rối loạn giấc ngủ.
    Mất ngủ là dạng rối loạn giấc ngủ hay gặp nhất. Trong Đông y gọi là "Thất miên", còn gọi là "Bất mị", "Bất đắc ngọa", ...

NGŨ HÀNH VÀ TRỊ LIỆU (PHẦN 2) Kim Thủy tương sinh - Phế Thận đồng trị


1. Khản tiếng, mất tiếng:
    Sau khi nói nhiều hoặc ca hát quá lâu, người ta thường hay bị khản tiếng, có khi còn thấy họng nóng rát và đau, thậm chí có thể bị mất tiếng, kèm theo ho khan, đại tiện táo bón, ... Nếu đi kiểm tra ở bệnh viện hiện đại, có thể phát hiện thanh đới tổn thương, viêm tấy, bị biến dạng nên mép các dây âm thanh không thể khép sát vào nhau, ... Tây y chẩn đoán là chứng bệnh viêm thanh quản.
    Trong Đông y, khản tiếng hay mất tiếng gọi là "thất âm". Bệnh lý tuy xảy ra ở vùng cổ họng, nhưng liên quan mật thiết đến chức năng của hai tạng Phế và Thận. Cổ họng và thanh môn nằm trong hệ thống của tạng Phế, nhưng cũng tương thông với tạng Thận, vì đường kinh lạc của tạng Thận tuần hành qua yết hầu, tới hai bên gốc lưỡi. Hai tạng Phế, Thận có liên quan mật thiết tới sự phát âm, nên Đông y thường nói "Phế là cửa của âm thanh, Thận là gốc của âm thanh" (Phế vi thanh âm chi môn, Thận vi thanh âm chi căn).

NGŨ HÀNH TRỊ LIỆU (PHẦN 1) Bổ Thổ sinh Kim - Bổ Tỳ ích Phế

1. Ngũ hành tương sinh, tương khắc:
    "Ngũ hành" là một lý luận trong triết học cổ đại Trung Hoa.
    Ngũ hành chỉ sự vận động và biến hóa của 5 loại vật chất. Trong đó, "ngũ" là "Mộc - Hỏa - Thổ - Kim - Thủy"; "hành" là "vận động và biến hóa".
    Ban đầu Ngũ hành gắn liền với 5 thứ tài vật thường dùng (ngũ tài), đó là: Gỗ (mộc), lửa (hỏa), đất (thổ), kim loại (kim) và nước (thủy). Dần dần, tính chất cố hữu của "ngũ tài" được mở rộng và khái quát hóa, trở thành những khái niệm triết học trừu tượng, dùng để quy nạp và phân loại tất cả các sự vật và hiện tượng trong vũ trụ.
    Học thuyết Ngũ hành cho rằng, tất cả mọi vật đều do Mộc - Hỏa - Thổ - Kim - Thủy, tạo thành. Sự phát triển và biến hóa của tất cả các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ, đều là kết quả của sự vận động, biến hóa không ngừng và tác động tương hỗ của 5 loại vật chất đó tạo thành. Nói theo ngôn ngữ hiện đại, Ngũ hành là một hệ thống tự ổn định, gồm 5 thành phần. Do giữa các thành phần tồn tại mối quan hệ "tương sinh" và "tương khắc", mà hệ thống luôn được duy trì trong trạng thái cân bằng động.
    Tương sinh là nuôi dưỡng, giúp đỡ, thúc đẩy. Quan hệ tương sinh trong Ngũ hành là: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc. Tương khắc là kiềm chế, chế ước. Quan hệ tương khắc trong ngũ hành là: Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc. Tương sinh và tương khắc là 2 mặt không thể tách rời trong mối quan hệ giữa các sự vật và hiện tượng. Không có sinh, thì  không thể nảy sinh, trưởng thành; không có khắc, sẽ dẫn tới tình trạng thái quá, không thể duy trì được trạng thái cân bằng trong quá trình vận động biến hóa.

Tại sao cần đưa quẻ dịch vào mạch lý

Lý do đưa quẻ dịch vào mạch lý sẽ được giải thích chi tiết ở phần dưới

BÌNH MẠCH

Châm cứu lục khí là phương pháp châm cứu rất đặc biệt và có tính khoa học cao, bởi vì từ việc chọn huyệt cho tới việc phối hợp huyệt, thêm bớt huyệt... đều dựa vào việc xem ở hai thốn khẩu ở cả hai tay làm cơ sở cho việc sử dụng huyệt đạo. Dùng huyệt lục khí là để đưa mạch bệnh trở về dạng bình mạch, tức là đưa người bệnh trở về với tình trạng khỏe mạnh. Bài dưới đây trình bày sơ nét về tiêu chuẩn của bình mạch, đây vừa là lý luận vừa là mục tiêu để những thầy thuốc áp dụng châm cứu lục khí phải thực hiện cho được. Chúng ta có thể dùng kim châm cạn, salonpas, day bấm... để tác động lên hệ thống huyệt lục khí theo từng bộ nhất định, phối hợp với các huyệt lạc, huyệt khích, huyệt của kì kinh bát mạch để chuyển mạch.

Đồ hình bộ mạch châm cứu lục khí


Xác định vị trí bộ khí, bộ huyết


BÀI HỌC CHÂM CỨU VÀ MẠCH LÝ

MẠCH PHÙ
  • Mạch lý trong đông y quan trọng và khó học, người xưa xem mạch để bốc thuốc bắc, thuốc nam. Xét về dùng mạch để châm cứu, tạm thời chưa thấy sách vở nào viết cả. Học mạch khó một phần nữa là vì không thực hành thì quên hết, mà kể cả nếu thực hành đều đặn nhưng không có thầy chỉ dạy tường tận thì cũng khó mà học được.
  • Từ trước tới giờ, trong các sách viết về châm cứu, thì chỉ nói về các bộ huyệt để chữa bệnh, không nói đến việc kết hợp mạch lý + bệnh lý + bộ huyệt một các logic, vậy khó có thể nói là có thể điều chỉnh được âm dương, khí huyết một cách có căn bản, và càng không thể nói là chữa gốc được tận gốc của bệnh. Châm cứu lục khí, sẽ nói về dùng mạch, xem mạch để châm cứu.

Thứ Tư, 7 tháng 6, 2017

HUYẾT ÁP THẤP: Chữa dứt điểm bằng Ngải cứu!

Bệnh Huyết áp thấp, những điều cần thiết cũng như thuốc thang tôi đã nói ở bài trước đây không nhắc lại. Giờ ta đi thẳng vào phương pháp dùng điếu ngải để điều trị dứt điểm bệnh huyết áp thấp này.
Trước tiên chúng ta cần xem lại, thật kỹ những hướng dẫn cơ bản tôi viết trong bài NGẢI CỨU CHỮA BỆNH. Sau khi nắm được kỹ thuật cứu, tức dùng điếu ngải hơ vào các huyệt, ta thực hành theo phác đồ sau:
CHỌN HUYỆT HƠ NGẢI CỨU CHỮA HUYẾT ÁP THẤP
1. Nhóm 1 gồm 3 huyệt: Thái khê, Tam âm giao, Túc tam lý.
2. Nhóm 2 gồm 3 huyệt: Thần khuyết, Khí hải, Quan nguyên. (Xem hình)
ngải cứu chữa huyết áp thấp

Thứ Ba, 6 tháng 6, 2017

Tự bấm huyệt giảm béo đơn giản tại nhà

Đối với con gái cân nặng có lẽ là điều luôn ám ảnh họ nhất. Tết gần đến rồi, làm thế nào để chị em thoát khỏi thân hình “khổng lồ” để trở nên thon gọn đây? Không cần sử dụng thuốc giảm cân ẩn chứa nhiều tác dụng phụ, không cần tốn các dụng cụ tập luyện đắt tiền, chỉ cần bấm các huyệt sau đây sẽ giúp chị em giảm béo nhanh chóng.
Bấm huyệt giảm béo không chỉ dành cho chị em mà còn cả đấng mày râu khi sở hữu một thân hình “phì nhiêu”.
Có 4 huyệt vị nếu tác động vào sẽ giúp con người giảm béo hiệu quả đó là:

Huyệt Lương Khâu giúp giảm béo

Huyệt Lương khâu thuộc kinh Vị, khi tác động đến huyệt sẽ giúp điều thông vị khí, hòa trung giáng nghịch, khu phong hóa thấp. Nhiều nghiên cứu đã đưa ra kết luận, bấm huyệt Lương khâu ức chế sự co bóp của dạ dày, giảm tiết dịch vị, công năng tiêu hóa được làm yếu, ức chế cảm giác thèm ăn. Nhờ vậy mà mỡ thừa được giảm, chống béo phì.
Bấm huyệt giảm béo quan trọng nhất chính là xác định được vị trí huyệt. Huyệt Lương khâu nằm ở vị trí: Khi co duỗi khớp gối huyệt nằm ở góc trên ngoài xương bánh chè đo lên 2 thốn (1 thốn bằng chiều cao cơ thể chia cho 75).
Bấm huyệt giảm béo 1
Cách thực hiện: Bấm huyệt Lương khâu mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 10 phút. Tác động vào huyệt với một lực mạnh mà cơ thể có thể chịu đựng được.

Chữa đau đầu bằng cách hơ điếu ngải

Đau đầu có nhiều nguyên nhân và biểu hiện khác nhau, nhưng chỉ cần một phương pháp thì mọi loại đau đầu, mọi mức độ đau đầu đều được chữa trị đơn giản, đó là hơ điếu ngải trên mu bàn tay trái.
Hơ điếu ngải chữa đau đầu

PHÂN LOẠI NHÓM HUYỆT THEO TÁC DỤNG PHỐI HỢP (847 NHÓM)

Để người thầy thuốc thực hành châm cứu một cách thuận lợi, xinh trích các nhóm phối huyệt và tác dụng của nó đã được ghi ở bài thứ 10 (huyệt) trên và các sách khác, đem phân loại theo tác dụng và giới thiệu trong bài này
I. HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG

Để người thầy thuốc thực hành châm cứu một cách thuận lợi, xinh trích các nhóm phối huyệt và tác dụng của nó đã được ghi ở bài thứ 10 (huyệt) trên và các sách khác, đem phân loại theo tác dụng và giới thiệu trong bài này

Do mục đích tiện dùng là chính, phần này lược đi những xuất xứ của các nhóm huyệt có ghi ở các sách gốc dùng để tuyển chọn, song vẫn dịch nguyên tên chứng bệnh theo các sách gốc đã ghi.

Việc giản lược xuất xứ, cũng như việc dịch nguyên tên chứng bệnh và nhóm huyệt chữa chứng đó, có tên theo y học hiện đại, có tên theo y học cổ truyền đúng như sách gốc, là ý đồ riêng theo nhận định cho rằng: nếu những người sử dụng sách này đã học qua Tây y thì các tên chứng bệnh theo y học cổ truyền cũng cần thiết, còn bỏ xuất xứ của nhóm huyệt phối hợp vì chúng rườm rà và lệch trọng tâm. Nếu thầy thuốc Đông y chưa học về Tây y thì tên bệnh theo y học hiện đại sẽ giúp hiểu biết thêm, tạo điều kiện thuận lợi khi cần kết hợp Đông Tây y để điều trị cho người bệnh.

Cũng do mục đích thực hành, thấy cần phải nói rõ thêm về các sử dụng chương trình này như sau:

A. Đối với những chứng bệnh cụ thể, ta có thể dùng ngay nhóm huyệt có tác dụng tương ứng. Ví dụ: đau đầu mất ngủ, ta lấy nhóm Phong long, Anh miên; đau răng hàm trên lấy nhóm Thái dương, Hợp cốc; trứng cá ở mũi, lấy Tố liêu Nghinh hương, Hợp cốc...

B. Đối với những tên bệnh, có nhiều nhóm huyệt khác nhau, do phối hợp tác dụng của các huyệt khác nhau, như chứng "đau đầu" tuy cùng một tên bệnh nhưng có sau nhóm huyệt như sau:

36 Tử Huyệt Của con Người

Trước đây bí thuật nầy vẫn luôn bị đóng kín trong giới võ lâm, ít người biết được công phu nầy, và cũng ít người tập luyện được cách điểm huyệt… và các vị thầy dạy theo lối bí truyền nên dần dần bị thất truyền .
Toàn bộ thân thể có 108 huyệt nguy hiểm, trong đó có 72 huyệt nói chung khi bị điểm, đánh không đến nổi gây ra tử vong, còn lại 36 huyệt trí mạng có thể dẫn đến tử vong, còn gọi là TỬ HUYỆT.
Trong khi va chạm quyền cước, có thể trở thành SÁT THỦ nếu thực hiện đòn đánh vào các Tử Huyệt như: Bách Hội, Thần Đình, Thái Dương, Nhĩ Môn, Tình Minh, Nhân Trung, Á Môn, Phong Trì, Nhân Nghênh, Đản Trung, Cựu Vĩ, Cự Khuyết, Thần Khuyết, Khí Hải, Quan Nguyên, Trung Cực, Khúc Cốt, Ưng Song, Nhủ Trung, Nhũ Căn, Kỳ Môn, Chương Môn, Thương Khúc, Phế Du, Quyết Âm Du, Tâm Du, Thanh Du, Mệnh Môn, Chí Thất, Khí Hải Du, Vi Lư, Kiến Tỉnh, Thái Uyên, Tâm Túc Ly, Tâm âm giao, Dung Tuyền .
36 huyệt nguy hiểm ở trên, sau khi bị điểm trúng đều có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng.

CƠ CHẾ TÁC DỤNG CỦA CHÂM CỨU

Châm cứu là một phương pháp chữa bệnh có nhiều kết quả, phạm vi ứng dụng rộng rãi, ngày một phát triển dưới những hình thức vô cùng phong phú.

TINH HOA VÀ SỰ KỲ DIỆU CỦA NGHỆ THUẬT CHÂM CỨU

I.  ƯU NHƯỢC TRONG THUẬT CHÂM CỨU
 1)    ƯU:
Song song với những phương pháp trị liệu khác, châm cứu và bấm huyệt đã từ lâu, trong dân gian và trong kinh điển y khoa Đông Tây, đã được thừa nhận, chứng minh  là một phương pháp trị bệnh có hiệu tốt và rất tốt trong nhiều trường hợp bệnh khó. Đây là ưu điểm của châm cứu, là một thực tế không thể phủ nhận.
Tuy nhiên, để phát triển phương pháp cổ truyền này trong thời đại của chúng ta, tôi nhận thấy có một số nhược điểm cần phải khắc phục và một số ưu điểm cần phải bổ sung trên tinh thần và với mục đích là làm cho điều tốt nhất ngày càng tốt hơn. (Make the best better)!
2)    NHƯỢC ĐIỂM:
Thầy thuốc chúng ta được học và hành theo kinh nghiệm kinh điển phức tạp, thụ động chờ kết quả trong một thời gian nhất định nào đó, có kết quả nhanh thì tốt, không thì kiên trì. Thầy thuốc giỏi tự tin vào y thuật châm cứu mình đã học nhưng vẫn phải thụ động chờ kết quả.
Đối với bệnh nhân, thường là bệnh nhân bị những bệnh khó trị bằng những phương pháp khác, trong lòng họ thực sự không có niềm tin chắc chắn lắm vào y thuật châm cứu nhưng đành phải nhờ thầy châm cứu, kiên trì lui tới thầy vì không còn sự chọn lựa nào khác ,và, chờ kết quả . Trong quá trình được châm cứu, bệnh nhân cảm nhận được kết quả , cảm thấy dễ chịu rõ rệt sau mỗi lần được châm nên dù có mất nhiều thời gian, hay ngay cả  khi bệnh không khỏi, họ cũng không buồn trách thầy thuốc vì họ biết bệnh của họ là bệnh khó. Chính nhờ vậy mà ngành châm cứu tồn tại mãi theo thời gian.
Tóm lại, nhờ có những hiệu quả nổi bậc gần như phi thường mà ngành châm cứu tồn tại và không ngừng được nhân rộng ra nhiều nơi trong nước và trên thế giới nhưng chính nó cũng có những yếu điểm nhỏ cần khắc phục, cải tiến để vươn đến tầm cao hơn, góp phần tích cực và có hiệu quả hơn nữa trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân theo hướng khoa học, dân tộc và đại chúng. Những nhược điểm nhỏ đó có thể được khái quát như sau:
1.     Đối với Phương pháp: Hay nhưng phức tạp, khó học, khó nhớ, khó hành.
2.     Đối với Thầy thuốc: Thụ động, không hoàn toàn tự tin vào kết quả
3.     Đối với bệnh nhân: Âu lo, mất nhiều thời gian.
        II.  GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC :
Để đơn giản hóa và ứng dụng những tinh hoa từ phương pháp châm cứu theo YHCT, giúp thầy thuốc tự tin, chủ động hơn khi hành nghề và bệnh nhân giảm bớt âu lo phiền muộn, thầy thuốc châm cứu nên dùng xung điện tác động trên những huyệt đại diện dễ nhớ, thường dùng của các đường kinh tạng- phủ thay vì dùng kim châm theo truyền thống.
        III. NHỮNG ƯU ĐIỂM KHI ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP CHÂM CỨU BẰNG XUNG ĐIỆN:
1.     Không cần dùng phác đồ điều trị phức tạp, nhiều huyệt cho một bệnh cụ thể.
2.     Hiệu quả tức thì. Các chứng đau, choáng, ngất, ... có thể tính bằng giây.
3.     Tham gia chữa được nhiều bệnh chứng hơn châm cứu cổ điển.
4.     Có thể thay đổi, xác định hướng chẩn đoán đúng hay sai  ngay trong lúc điều trị.
5.     Chữa vào gốc bệnh (bản) nhưng ngọn bệnh (tiêu) giảm, khỏi ngay.
6.     Liệu trình chữa ngắn, khỏi cả gốc lẫn ngọn. ( 3-5 lần cách ngày hoặc cách 4 ngày, mỗi lần 5 giây đến 1 phút).
7.     Không cần quá chú trọng đến thuật bổ tả.
8.     Không sợ bị vựng châm, không có phản ứng phụ.
9.     Không tốn tiền kim châm.
10.  Không gây cảm giác đau, tâm lý sợ đau, sợ bị nhiểm trùng trên huyệt châm.
          IV. NHỮNG BỆNH CÓ THỂ ĐƯỢC CHỮA KHỎI BẰNG PHƯƠNG PHÁP XUNG ĐIỆN:  (xem phụ lục đính kèm)
           V.HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG SÚNG XUNG ĐIỆN: (xem phụ lục đính kèm)
           VI. Ý KIẾN CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐÃ TỪNG DÙNG SÚNG XUNG HUYỆT (ACUPOINTER): ( xem phụ lục đính kèm)
           VII. ĐỀ NGHỊ-KIẾN NGHỊ:
1)    Được tổ chức hội thảo chuyên đề có bệnh nhân để diễn giải , chứng minh và khảo nghiệm cụ thể.
2)    Bổ sung liệu pháp xung điện vào những chương trình đào tạo y, bác sĩ, trong các trường Đại học y dược và trung cấp y tế.
3)    Có thể tham khảo những hình ảnh trực quan, thực tế về phương pháp châm cứu bằng súng xung điện ngay trên mang internet 

LỢI ÍCH CỦA LIỆU PHÁP GIÁC HƠI

Giác hơi có lợi ích gì?
1. Không có tác dụng phụ
Điều trị giác hơi là một liệu pháp trị liệu giống như liệu pháp xoa bóp và châm cứu. Những phương pháp này không gây ra bất kỳ nguy cơ tác dụng phụ không mong muốn nào. Không giống như điều trị bằng thuốc hay phẫu thuật.

CHỈ ĐỊNH VÀ CHỐNG CHỈ ĐỊNH CỨU NGẢI

I. CHỈ ĐỊNH CỨU NGẢI:
Chỉ định cứu ngải rất rộng, dựa trên tác dụng có thể quy nạp vào mấy điểm sau:
1) Các bệnh do hàn ngưng, huyết trệ, tắc nghẽn kinh lạc; như liệt do phong hàn thấp, thống kinh, bế kinh, đau bụng do lạnh v.v.
2) Ngoại cảm phong hàn biểu chứng cùng trung tiêu hư hàn: nôn, đau bụng, tiêu chảy v.v.
3) Các chứng do tỳ-thận dương hư, suy giảm nguyên khí: tiêu chảy mãn tính, lỵ mãn tính, đái dầm, di tinh, liệt dương, tảo tiết (xuất tinh sớm) v.v.
4) Khí suy, sa các cơ quan nội tạng: sa dạ dầy, thận, tử cung, trực tràng (thoát giang), chảy máu tử cung kéo dài v.v.
5) Bệnh ngoại khoa: mụn nhọt giai đoạn đầu chưa hóa mủ (có tác dụng tiêu ứ, tán kết; thải độc tả nhiệt. Nếu mụn nhọt đã vỡ, cứu ngải có tác dụng làm chóng đầy và liền miệng vết thương), bệnh tràng nhạc; các chứng đau v.v.
6) Các chứng bệnh do khí nghịch thượng xung (khắc): khí chi dưới nghịch xung (khắc) tâm, can dương vượng có thể cứu huyệt Dũng Tuyền để điều lý.
7) Phòng bệnh giữ sức khỏe.
8) Ban nhạt mầu, làm mọc tóc.

CHỮA LIỆT MẶT NGOẠI BIÊN BẰNG CHÂM CỨU

Liệt mặt ngoại biên là gì?


Liệt mặt ngoại biên (LMNB) còn gọi là liệt dây thần kinh số 7 hay Bell’s palsy (tiếng Anh), theo tên Charles Bell, nhà giải phẫu người Scotland ở thế kỷ thứ 19, người đầu tiên mô tả dây thần kinh này.
Gọi là liệt ngoại biên để phân biệt với liệt trung ương có nguyên nhân ở não bộ, trong bài viết này chỉ đề cập đến mặt ngoại biên vì bệnh thường gặp và có tỉ lệ lành bệnh cao.

Thứ Hai, 5 tháng 6, 2017

Tám mạch khác kinh (Kỳ kinh bát mạch)

Đại cương
Tám mạch khác kinh (Kỳ kinh bát mạch) bao gồm các mạch:
Mạch Xung.
Mạch âm kiểu.
Mạch Đới.
Mạch Dương kiểu.
Mạch Đốc.
Mạch âm duy.
Mạch Nhâm.
Mạch Dương duy

HUYỆT VÀ CÔNG DỤNG TRONG CHỮA BỆNH

  • Huyệt là gì?
    1 - Là cái lổ (đào huyệt)
    2 - Là nơi KHÍ và HUYẾT luân lưu (nhưng không phải là huyết quản - óng dẫn máu hay đường dẫn của hệ Thần Kinh)
    3 - Là nơi mà người ta có thể "thông" được với các SÓNG từ vũ trụ - bị tác động nhiều nhất là Huyệt Bạch Hội (trên đỉnh đầu, nên phải có Ô Dù, Mũ nón khi đi nắng)
    4 - Là nơi bị đau (do tác động bên ngoài hay từ trong cơ thể như vết bầm do va đập, do muỗi đốt hay mụn, nhọt) gọi là A Thị Huyệt "đích thị là Huyệt" vì khi bị đụng đến bệnh nhân ...Ui đau (Ah lên khi bị đụng, xờ đến)
    5 - Là nơi khi tác động (xoa ngay chỗ đau): sinh ra một chất (còn có tên là Intro morphin - ma túy nội sinh): Làm giảm đau ngay!
  • SƯNG ĐAU KHỚP GỐI

    Hạc tất phong

    upload_2016-3-24_23-39-0.png 
    - Đau đầu gối là dấu hiệu của nhiều bệnh xương khớp như thoái hóa khớp gối, viêm khớp gối, tràn dịcuh khớp gối…Đau khớp gối làm nhiều người không thể sinh hoạt, làm việc bình thường được.

    - Theo Y học cổ truyền chứng đau đầu gối gọi chung là hạc tất phong hoặc đau đầu voi. Một bên hoặc hai bên gối xưng đau gọi chung là gối xưng đau, nếu mầu da ở nơi không thay đổi, không có cảm giác nóng nhưng cơ bị teo dần giống như gối hạc gọi là hạc tất phong. Bệnh đau đầu gối này làm sưng đầu gối như đầu con voi nên gọi tên chứng là đau đầu voi.

    ĐAU LƯNG - YÊU THỐNG

    Đau lưng là một bệnh hay gặp trong đời sống hàng ngày và trên lâm sàng. Bệnh gặp ở cả nam và nữ, ở các lứa tuổi, nhất là tuổi lao động, ảnh hưởng đến năng suất lao động và sinh hoạt. Đau lưng là một triệu chứng đau cấp tính hoặc mạn tính ở lưng bao gồm cột sống lưng và các tổ chức xung quanh do nhiều nguyên nhân gây ra (bệnh lý đĩa đệm, cột sống, thần kinh, nội tạng…).

    Trên 90% các trường hợp đau lưng được điều trị khỏi bằng phương pháp bảo tồn, chỉ một số ít cần điều trị phẫu thuật. Vì vậy, điều trị đau lưng an toàn, hiệu quả là thế mạnh của YHCT nhờ sử dụng tổng hợp các phương pháp điều trị truyền thống của YHCT kết hợp với vật lý trị liệu hiện đại.

    A. ĐAU LƯNG CẤP TÍNH
    Thường do bị lạnh đột ngột gây co cứng các cơ ở cạnh cột sống, các dây chằng cột sống bị viêm, bị phù nề chèn ép vào rễ, dây thần kinh gây đau, hạn chế vận động lưng. Ngoài ra còn gặp đau lưng cấp do mang vác nặng, sai tư thế, sang chấn vùng cột sống hoặc đau lưng cấp do viêm cột sống, co cứng cơ quanh cột sống.
    upload_2016-3-19_17-2-53.png

    BÀI ĐƯỢC QUAN TÂM NHIỀU

    PHƯƠNG PHÁP VÀ CHẨN ĐOÁN ĐIỀU TRỊ ĐỘC ĐÁO CỦA YHCT

      Phương pháp chẩn đoán và điều trị độc đáo Y học cổ truyền Việt Nam sử dụng nhiều phương pháp chẩn đoán và điều trị độc đáo, mang tính toàn...

    Kiến thức Đông Y