Thứ Hai, 8 tháng 1, 2018

THỞ BỤNG 4 THỜI YOGA [THỞ CƠ HOÀNH]

Hít thở là phản xạ tự nhiên vô điều kiện của con người, nhưng không phải ai cũng biết cách thở để phát huy tối đa khả năng của cơ quan hô hấp.
Đa số chúng ta thở không đúng cách, chúng ta thường thở nông và cạn, chỉ dùng cơ ngực và cơ vai trong lúc thở, chính vì vậy không khí không thể vào làm đầy hai lá phổi. Theo cách thở thông thường, khi ta hít vào, thở ra… chúng ta chỉ dùng 1/3 hay một nửa thể tích của phổi, tức là ta chỉ sử dụng phần giữa và phần trên của phổi, còn phần dưới của cuống phổi và đáy phổi thì không hoạt động, vì vậy mà phổi của ta luôn luôn chứa đầy không khí cũ tồn đọng.
Với cách thở thụ động như trên, sẽ làm cho tế bào của ta luôn luôn thiếu dưỡng khí, và đương nhiên là tế bào sẽ bị lão hoá nhanh. Các chức năng tiêu hoá, chức năng loại bỏ các chất thải, các độc tố sẽ bị ngăn trở. Đó cũng là nguyên nhân phát sinh gây ra cảm lạnh và các bệnh thuộc về hô hấp.
Với một con người có sức khoẻ bình thường, dung tích của phổi có sức chứa khoảng 5 lít không khí. Khi chúng ta hít vào, thở ra một cách thụ động [tức là thở tự nhiên] thì có khoảng 3 lít không khí được lưu chuyển, như vậy sẽ còn 1 lít rưởi đến 2 lít không khí không được lưu chuyển và nó sẽ nằm tù hãm trong phổi và hoàn toàn không được sử dụng đến.
Theo báo cáo của ngành Y khoa, lao phổi là do giảm sinh khí, do dưỡng khí không được cung cấp đầy đủ, vì vậy quá trình trao đổi khí cần phải có một thời gian nhất định. Các nhà sinh lý học cho rằng một hơi thở tốt nên kéo dài khoảng 20 giây cho một lần hít vào, thở ra. Nếu ta thở nhanh quá hoặc cạn quá thì thời gian trao đổi khí quá ngắn, không tận dụng được lượng dưỡng khí ở trong máu đưa vào tế bào, cũng như không thải được thán khí ra khỏi cơ thể.
Các nhà khoa học đã nghiên cứu trong giới sinh vật rằng “LOÀI SINH VẬT NÀO CÓ CHU KỲ HÔ HẤP DÀI, ĐỀU LÀ NHỮNG LOÀI CÓ ĐỜI SỐNG RẤT LÂU”. Chẳng hạn như con chó trung bình mỗi ngày thở 50.400 lần, và nó có đời sống khoảng 12 năm. Con ngựa một ngày thở 29.000 lần, và có đời sống khoảng 25 năm. Con rùa một ngày thở 8.200 lần, và có đời sống trên một thế kỷ hoặc hơn nữa.
CƠ CHẾ THỞ BỤNG
Trong tất cả các họat động nội tạng, chỉ có thở là vừa tự phát vừa có thể tùy ý. Động tác thở bụng được thực hiện chủ yếu bởi cơ hoành, một cơ chắn ngang giữa ngực và bụng. Mặt trên tiếp giáp tim và phổi, mặt dưới với gan và khoang bụng. Khi chúng ta hô hấp, cơ này cử động lên xuống, đồng thời dồn ép hoặc kéo giãn các cơ quan nội tạng.
Theo cách thông thường, người ta thường hay thở cạn, nhanh và không có sử dụng cơ này. Chỉ có cách thở bụng mới tận dụng được nó, theo cách thở này khi ta hít vào thật chậm, sâu thì không khí đi vào phần dưới đáy phổi, cơ hoành đẩy xuống làm cho thận, gan, dạ dày bị ép liên tục. Khi thở ra nó lại co lên kéo giãn các tạng phủ. Như vậy toàn bộ các cơ quan nội tạng bên trong được mátxa liên tục.
Nói theo lời của B/S Đỗ hồng Ngọc thì sự “hô hấp sâu sẽ tác động trên từng tế bào của cơ thể chứ không phải chỉ là ở hai lá phổi”. Phổi thực chất là một cái bơm, bơm không khí vào ra “phình xẹp” vậy thôi. Để cho cái máy bơm đó làm việc tốt, ta cần phải biết một chút về cơ chế của nó.
Lồng ngực là cái xy-lanh [cylindre], còn pít-tông [piston] chính là cơ hoành, một cơ trơn nằm vắt ngang giữa bụng và ngực. Khi cơ hoành thụt lên thụt xuống [như cái bể lò rèn] thì không khí được hút vào đẩy ra ở phổi. Khi cơ hoành hoạt động càng mạnh thì trái tim càng khỏe, có người ví von rằng cơ hoành là “TRÁI TIM THỨ HAI”, là một thành phần tưởng không giữ vai trò nào nổi bật trong cơ thể, ấy vậy mà lại có thể trở thành đòn bẩy cho trái tim khỏe mạnh.
Và nói theo lời của các đạo sư Yoga ” KHÔNG PHẢI SỰ HÔ HẤP SINH RA VẬN ĐỘNG CỦA PHỔI, MÀ NGƯỢC LẠI CHÍNH SỰ VẬN ĐỘNG CỦA PHỔI VÀ CƠ HOÀNH MỚI TẠO RA SỰ HÔ HẤP”. Điều này ta có thể chứng minh bằng cách là “dùng hai ngón tay bóp vào hai lỗ mũi một người đang ngủ” ta sẽ thấy phần ngực và cơ hoành chuyển động rất mạnh.
Bác sĩ Dean Ornish, tác giả cuốn sách nổi tiếng “Program for Reversing Heart Disease” (Chương trình phục hồi bệnh tim) hướng dẫn cách thở bụng rất đơn giản, dễ làm. Hãy đặt một bàn tay lên bụng, khi thở vào thở ra, ta thấy bàn tay mình nhích lên nhích xuống là được.
Ngày nay, ở phương Tây, rất nhiều trung tâm dạy Thiền, Yoga, Khí công… để chữa bệnh cũng chủ yếu là dạy phương pháp thở bụng. Các phương pháp trị liệu nổi tiếng của các bác sĩ như Dean Ornish, Deepak Chopra v.v… căn bản cũng không ngoài cách… thở bụng. Phương pháp thở bụng không chỉ giúp để chữa một số bệnh tim mạch, hô hấp, tiêu hóa… mà còn làm cho tâm được an lạc, giảm stress trong cuộc sống hiện tại.
PHƯƠNG PHÁP TẬP THỞ BỤNG 4 THỜI YOGA: HÍT VÀO, NGƯNG THỞ, THỞ RA, NGƯNG THỞ. BẮT ĐẦU BẰNG THỞ RA.
Việc thở bụng phải tuân thủ 4 nguyên tắc sau: CHẬM , ÊM, DÀI, SÂU. Cách thở này không những tăng cường nội lực mà còn giúp điều hòa các rối lọan tạng phủ.
THỜI 1: HÍT VÀO từ từ phình bụng ra, cơ hoành hạ xuống, có tác dụng đẩy các tạng phủ xuống thấp, làm áp lực ổ bụng tăng lên, máu ở bụng được đẩy về tim dễ dàng. Dạ dày, gan, thận được mátxa liên tục. Khi thở vào SÂU, sẽ giúp cho oxy đến đầy đủ tận cùng toàn bộ tế bào trong cơ thể, do đó sẽ có sự chuyển hóa hoàn toàn nhất, tránh được khả năng đào thải những chất có gốc tự do gây bệnh và các chất oxy hóa từ tế bào tự hủy vì thiếu oxy, đó là mầm mống của bệnh tật. Thở vào SÂU, sẽ làm cho lượng bọt khí NITRIC OXIDE li ti xuất hiện nhiều trong máu, các chất này tác động lên đầu các nơron thần kinh, làm tăng trao đổi điện hóa giữa các dây thần kinh, tăng chất DOPAMINE và ENDORPHIN trong máu.
THỜI 2: NGƯNG THỞ có tác dụng giữ lượng không khí trong phế nang một thời gian để tăng sự khuếch tán oxy vào máu, máu sẽ tràn đầy các tế bào và các mô, làm giãn nở các mạch máu và bắp thịt, giúp tăng cường hệ miễn dịch. THỞ VÀO, NGƯNG THỞ [thời dương] Đối với những người thường trì trệ, kém năng động, hay buồn rầu, chán nản v.v… với cách thở này [hít vào, ngưng thở] sẽ làm hưng phấn hệ GIAO CẢM VÀ ỨC CHẾ ĐỐI GIAO CẢM, giúp đẩy lùi được những căn bệnh trên rất có hiệu quả.
THỜI 3: THỞ RA bụng từ từ xẹp xuống, đẩy cơ hòanh lên cao hơn, các tạng phủ dồn lên, các khoang liên sườn thu hẹp lại, thể tích lồng ngực giảm tối đa nhằm tống khí độc ô nhiễm CARBON DIOXIDE ra khỏi đáy phổi. Giúp cho tim và phổi họat động tốt hơn. Thở ra nếu có cố gắng thêm một chút, sẽ làm hưng phấn đối giao cảm, giúp tăng tiết INSULIN rất có lợi để chữa bệnh tiểu đường và có thể thay thế thuốc chích INSULIN từ ngoài vào cơ thể.
THỜI 4: NGƯNG THỞ tạo ra sự thay đổi ngược lại phản xạ sinh lý bình thường. Ngưng thở còn làm cho lượng CO2 trong máu tăng lên, có tác dụng kích thích trung tâm hô hấp ở hành tủy, điều khiển hít vào sâu hơn. Khi thở ra, ngưng thở kết hợp với nhíu hậu môn sẽ giúp cho lưu thông máu ở vùng tầng sinh môn được dễ dàng, vì vậy sẽ phòng và tránh được bệnh trĩ rất hiệu quả, hổ trợ cho việc hấp thu năng lượng âm và làm dễ dàng cho việc nâng khí nhằm bổ trợ cho thận thủy khí sung mãn. THỞ RA, NGƯNG THỞ [thời âm] Đối với những người thường hay nóng nảy, căng thẳng hoặc quá hưng phấn v.v… với cách thở này [thở ra, ngưng thở] sẽ làm hưng phấn hệ ĐỐI GIAO CẢM VÀ ỨC CHẾ GIAO CẢM, có tác dụng làm giảm mọi sự căng thẳng, giận hờn bực tức.
ÍCH LỢI THỞ 4 THỜI
1/ Cung cấp thêm nhiều oxy cho các tế bào, và tăng cường tuần hoàn não.
2/ Tăng cường hệ miễn dịch.
3/ Xoa bóp nội tạng.
4/ Nâng cao hiệu quả trong quá trình hô hấp.
5/ Tác động đến hệ thống tuần hoàn máu và bạch huyết, khiến những hệ thống này tạo ra những kháng thể để tiêu diệt vi trùng, vi khuẩn và những sinh vật khác trong cơ thể. Giúp cho ta tiêu trừ được một số bệnh kinh niên hay nhất thời.

Thứ Ba, 2 tháng 1, 2018

MAI HOA CHÂM

Mai hoa châm là kích thích nông bằng một chùm kim lên mặt da vùng huyệt.
Trong Linh khu kinh, Thiên quan kim thì thế kỷ 3-5 trước công nguyên đã đề cập đến mai hoa châm.
1. Phương tiện
Gồm bó kim 5 - 7 chiếc bằng thép tốt, dài khoảng 2cm, được gắn lên một cán gỗ dài 25cm cách đầu cán khoảng 1cm. Có hai loại kim là kim chụm và kim xòe hình gương sen.

CHÂM TÊ

I – ĐẠI CƯƠNG
Châm tê là phương pháp dùng kim châm vào một huyệt để nâng cao ngưỡng đau, giúp người bệnh có thể chịu đựng được cuộc mổ trong trạng thái tỉnh. Cảm giác sợ, nóng, lạnh hầu như không thay đổi, chỉ có cảm giác đau giảm xuống rõ rệt hoặc hết.
Phương pháp châm tê dựa trên nguyên lý châm có thể chống đau và điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể của châm cứu.
Hiện nay số ca mổ châm tê trên thế giới đã lên đến hàng trăm vạn, được tiến hành ở nhiều nước (Trung Quốc, Việt Nam, Pháp, Ý, Nhật, Mỹ, Ấn độ, Serilanca, Miến điện, Liên Xô…) đã đạt được kết quả nhất định và được coi là một phương pháp vô cảm. Nhưng cũng không phải không có ý kiến phản đối, trong số đó có người cho cảm giác tê là do bệnh nhân bị ám thị.
Dựa vào thực tiễn trong nước, có thể khẳng định: nếu chọn đúng đối tượng, châm tê có thể phát huy được tác dụng gây tê của nó và có thể dùng trong nhiều loại phẫu thuật.

CHÂM CỨU VÀ THANG DƯỢC

“Châm cứu thực hành”, chuyên về vấn đề chẩn đoán và trị bệnh bằng châm cứu. Tuy nhiên, trong một số “ca bệnh” nhất định nào đó, việc cho uống thuốc song song với châm cứu là một việc làm hợp lý. Hơn nữa trong quyển “Thái ất thần châm cứu” tác giả Lưu Khiết Thanh đã có cho chữa song song với châm cứu bằng những “cổ phương thang” gia giảm. Để giúp cho bạn đọc có những “cổ phương” nguyên trạng trong việc nghiên cứu xa hơn, xin trình bày lại các cổ phương tương ứng có nhắc đến trong danh sách.
1) Phương dược đặc chế cho ngải cứu của Thái ất Thần châm cứu (của Lưu Khiết Thanh)
Cam tùng
3g
Nhũ hương
12g
Một dược
12g
Nha tiêu
1g
Ngưu tất
12g
Xuyên ô
12g
Độc hoạt
12g
Tam lăng
5g
Thảo ô
1,5g
Bạch chỉ
12g
Khương hoạt
1,2g
Quế chi
6g
Bạc hà
6g
Ma hoàng
6g
Xuyên sơn chỉ
6g
Phòng phong
6g
Đỗ trọng
6g
Sửu ngưu
6g
Chương não
12g
Nam tinh
1,2g
Tế tân
6g
Minh hùng
45g
Toàn hạt
4,5g
Xạ hương
6g
Ngãi nhung
15g
Lưu hoàng
3g
Đinh hương
1,2g
Giáng hương
3g
Tần giao
6g


Tất cả 29 vị thuốc trên đây, cân đúng phân lượng xong, nghiền nát thành bột, hoà chung loại bỏ vào 1 cái lọ kính để dành. Khi trộn lại để sử dụng nên theo 1 tỉ lệ: 15 gr ngãi nhung (nghiền nát) + 15 gr thuốc bột (29 vị) + 3gr Xạ hương (mùa hạ chỉ dùng 1,5gr).

NGUYÊN TẮC HÌNH THÀNH CÔNG THỨC CHÂM CỨU

Như đã trình bày, muốn điều trị tốt phải chẩn đoán tốt, đó là điều cốt yếu trong trị liệu. Nhưng cũng có khi chẩn đoán tốt mà điều trị cũng không công hiệu thường là do mấy nguyên nhân sau:
  • Chẩn đoán nhận định không đúng
  • Chẩn đoán đúng bệnh, áp dụng đúng huyệt nhưng châm chưa đúng huyệt.
  • Ấn đúng huyệt mà thủ thuật không đúng, chưa bảo đảm đắc khí.
  • Châm đúng đắc khí nhưng chưa vận dụng phương pháp bổ tả đúng cách.
Vì vậy, muốn đạt kết quả phải chú ý vào áp dụng theo hai phương thức dưới đây:
  • Định bệnh thủ huyệt
  • Định bệnh trị liệu

PHƯƠNG PHÁP BỔ TẢ

Trong quá trình thực hiện công tác trị liệu bằng châm cứu, vấn đề bổ tả đóng vai trò quan trọng. Dĩ nhiên, tùy thuộc vào tình hình bệnh tật cụ thể mà ta có những phép bổ tả khác nhau. Để tiện việc thực hiện tốt việc bổ tả, xin tạm đưa ra một số phương pháp bổ tả, giúp phần nào cho người làm châm cứu trong lúc thực hành. Các phương pháp này được rút ra một cách tóm tắt trong các sách xưa nay.

CƠ CHẾ TÁC DỤNG CỦA CHÂM CỨU

Châm cứu là một phương pháp chữa bệnh có nhiều kết quả, phạm vi ứng dụng rộng rãi, ngày một phát triển dưới những hình thức vô cùng phong phú.
Đã từ lâu, lý luận về cơ học tác dụng của phương pháp châm cứu dựa trên những nguyên lý của các học thuyết cơ bản của y học dân tộc cổ truyền (âm dương, ngũ hành, tạng tượng, kinh lạc, thiên nhân hợp nhất…). Trong những năm gần đây, ở rất nhiều nước, phương pháp chữa bệnh bằng cách tác động lệ “huyệt” nằm trên cơ thể con người và động vật đã được một sự quan tâm đặc biệt, và việc tìm hiểu cơ chế tác dụng của nó (châm cứu) trên cơ sở khoa học đã và đang gây nên những tranh luận vô cùng sôi nổi.
Qua các công trình nghiên cứu trên lâm sàng và thực nghiệm, thật khó mà nói một cách chính xác khoa học về cơ chế tác dụng của phương pháp chữa bệnh bằng châm cứu. Có rất nhiều giả thuyết về cơ chế tác dụng của châm cứu được bàn đến.
  • Cơ chế thể dịch: Miarbe (Pháp), Tokieda (Nhật)
  • Cơ chế thay đổi trình diện sinh vật: Delafuje, Niboyet (Pháp), Patsibiskin (Liên Xô), Okamoto (Nhật).
  • Cơ chế thay đổi các chất trung gian hoá học đặc biệt là Histamine Maritiny (Pháp)
  • Cơ chế thần kinh phản xạ: Chu Liễn (Trung Quốc), Vogralic (Liên Xô), Felix Mann (Anh), Kassin (Liên Xô), J. Bossy (Pháp)
  • Cơ chế “cửa kiểm soát”: Melzach (1965)
  • Cơ chế thần minh thể dịch nội tiết đặc biệt là b. Endorphine (Giải thưởng Nobel về y học năm 1977): Bruce Pomeranz (Canada).

NHĨ CHÂM

GIỚI THIỆU
Châm tai, châm mặt, châm mũi, châm đầu, châm tay và châm chân đều là trên cơ sở kế thừa Y học cổ truyền mà phát triển ra, là phương pháp mới dựa vào các bộ vị tương ứng châm để điều trị nhiều bệnh. Các loại phương pháp này đã vượt xa ứng dụng đơn thuần trước kia về châm cứu chữa bệnh và về phạm vi xem xét các bộ vi khác nhau phát triển ra điểm kích thích và điểm phản ứng đặc biệt khiến cho phương pháp chữa bệnh châm cứu có nội dung phong phú. Các loại phương pháp này trên lâm sàng có thể phân biệt chọn dùng, cũng có thể cùng với phương pháp châm cứu phối hợp ứng dụng.
Phương pháp chữa bệnh châm tai là phương pháp thăm dò điểm phản ứng trên loa tai tiến hành kích thích châm chích để chữa bệnh. Nó có ưu điểm thích ứng chữa bệnh rộng, thao tác thuận lợi, tác dụng phụ ít, có hiệu quả kinh tế, thích hợp ứng dụng ở vùng nông thôn, miền núi và ngoài trận địa.
Lịch sử dùng bộ phận tai để chữa bệnh trong nền y học cổ truyền đã có từ lâu đời. Từ sau công nguyên có lấy huyệt ở tai điều trị bệnh da vàng (như da ngựa) và dịch tả do nóng lạnh; lấy "như thượng phát tế" chữa bệnh khí độc "cứu dương duy" chữa bệnh ù tai hoa mắt. Ngoài ra trong dân gian còn lưu truyền cách châm loa tai để chữa bệnh mắt đỏ, châm tai sau để chưa bệnh viêm họng, kéo thùy tai để chữa cho trẻ em chứng bệnh kinh phong, đốt bấc đèn trên tai để chữa bệnh mờ mắt. Bởi vậy ứng dụng phép châm loa tai đã có lịch sử lâu đời ở nước ta. Những năm gần đây (1957) trong tạp chí "Châm cứu của nước Đức có đăng bài phương pháp châm loa tai của Nogier nước Pháp đã gây được sự chú ý của mọi người. Nước ta từ sau giải phóng rất nhiều cán bộ y tế, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước ra sức phát huy nền y học của đất nước thông qua thực tiễn và không ngừng tổng kết khiến cho phương pháp châm loa tai, được đưa lên một giai đoạn mới ứng dụng phương pháp châm loa tai trước mắt không chỉ chữa được các bệnh thường thấy còn có thể chữa được một số bệnh khó cho đến dùng châm thích, châm tê cũng đạt được hiệu quả cao.

34 CÔNG THỨC CHÂM CỨU THƯỜNG DÙNG

NHÓM THỨ 1
a) Phối huyệt: bách hội, đại chùy, khúc trì, hợp cốc
b) Hiệu năng: sơ phong, giải biểu, điều hoà doanh
c) Chủ trị:
Các chứng ngoại cảm Phong hàn như: lục dâm tà khí còn ở tại biểu như phát nhiệt ố hàn, đầu thống, cổ chứng, lưng lạnh, thắt lưng đau, cột sống cứng, đau nhức toàn thân, không có mồ hôi, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù khẩn; lại như chứng ngoại cảm Phong nhiệt như: phát nhiệt mà không ố hàn, đầu thống tự hạn, miệng khát muốn uống nước, rêu lưỡi màu vàng nhạt hoặc sẫm, mạch phù sác. Các chứng trên đây nên dùng nhóm huyệt trên rồi tùy nghi gia giảm để trị.

BÀI ĐƯỢC QUAN TÂM NHIỀU

PHƯƠNG PHÁP VÀ CHẨN ĐOÁN ĐIỀU TRỊ ĐỘC ĐÁO CỦA YHCT

  Phương pháp chẩn đoán và điều trị độc đáo Y học cổ truyền Việt Nam sử dụng nhiều phương pháp chẩn đoán và điều trị độc đáo, mang tính toàn...

Kiến thức Đông Y