Thứ Bảy, 23 tháng 9, 2017

THỐNG PHONG

(GOUTTE)
Mục tiêu 
1. Nêu được những yếu tố dịch tễ học của bệnh Goutte.
2. Nêu được nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của bệnh Goutte theo YHCT & YHHĐ.
3. Chẩn đoán được bệnh Goutte nguyên phát và thứ phát theo YHHĐ và các thể bệnh theo YHCT.
4. Trình bày được những nguyên tắc và phương pháp điều trị Goutte theo YHCT & YHHĐ.
5. Giải thích được cơ sở lý luận của việc điều trị Goutte bằng YHCT. 
1. Đại cương 
Bệnh Goutte (hay hội chứng Goutte) là danh từ dùng để chỉ một nhóm tình trạng bệnh lý gồm nhiều thời kỳ viêm khớp tái đi tái lại, tương ứng với sự hiện diện của các tinh thể acid uric hoặc tinh thể muối urat ở trong dịch khớp. Trong nhiều trường hợp có thể có sự tích tụ các tinh thể này ở ngoài khớp như ở trong thận, trong một số mô dưới da. Có hai loại chính:
Goutte nguyên phát: có tính chất di truyền.
Goutte thứ phát: thường là hậu quả tiến triển của một bệnh hay là hậu quả của việc sử dụng thuốc lâu ngày (như thuốc lợi tiểu, aspirin liều thấp).
Tần suất xuất hiện: 90% trường hợp Goutte nguyên phát xảy ra ở đàn ông, nếu ở phụ nữ chỉ thấy xảy ra ở tuổi mãn kinh mà thôi.
Goutte thứ phát hay gặp ở phụ nữ mắc bệnh tim mạch, có tăng huyết áp hoặc những bệnh nhân có bệnh ác tính về máu (bệnh đau tủy Kahler, bệnh bạch cầu kinh thể tủy, đa hồng cầu…), bị bệnh thận mạn hoặc bị ngộ độc chì.
Theo thống kê ở châu Âu: bệnh Goutte chiếm 0,02 đến 0,2% dân số, chủ yếu ở nam giới (chiếm tỷ lệ 95%), thường xuất hiện ở tuổi trung niên (30 - 40 tuổi).
ở Việt Nam theo thống kê của Bệnh viện Bạch Mai: bệnh Goutte chiếm 1,5% các bệnh về xương khớp.
2. Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh 
2.1. Theo y học cổ truyền 
2.1.1 Nguồn gốc và sự chuyển hóa acid uric 
Nguyên nhân trực tiếp gây ra bệnh Goutte là acid uric. ở người bình thường: acid uric trong máu giữ mức độ cố định: nam 5mg% và nữ 4mg%. Tổng lượng acid uric trong cơ thể là 1000mg và lượng này luôn luôn được chuyển hóa (sinh mới và thải trừ).
a. Sinh mới
Acid uric được tạo thành từ 3 nguồn:
− Thoái biến từ chất có nhân purin do thức ăn mang vào.
− Thoái biến từ chất có nhân purin từ trong cơ thể (các acid nhân ADN và ARN do sự phá hủy các tế bào giải phóng ra).
− Tổng hợp các purin từ con đường nội sinh.
Ngoài sự hình thành acid uric từ ba nguồn trên còn cần có sự tham gia của các men nuclease, xanthin oxyclase, hypoxanthin, guanin phosphoribosyl transferase (HGPT).
b. Thải trừ
Để cân bằng, hàng ngày acid uric được thải trừ ra ngoài, chủ yếu theo đường thận (450 - 500mg/24h) một phần qua đường phân và một số cùng với các đường khác 200mg.

THOÁI HÓA KHỚP

Mục tiêu 
1. Nêu được định nghĩa và đặc điểm dịch tễ học của thoái hoá khớp.
2. Trình bày được nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh thoái hoá khớp theo YHCT & YHHĐ.
3. Trình bày được những nguyên tắc điều trị thoái hoá khớp theo YHCT & YHHĐ.
4. Trình bày được phương pháp điều trị thoái hoá khớp theo YHCT.
5. Giải thích được cơ sở lý luận của việc điều trị thoái hoá khớp xương theo YHCT. 
1. Đại cương 
1.1. Định nghĩa 
Thoái hóa khớp (THK) là những bệnh của khớp và cột sống mạn tính, gây đau và biến dạng khớp. Tổn thương cơ bản của bệnh là tình trạng thoái hóa sụn khớp và đĩa đệm ở cột sống, gắn liền với những thay đổi sinh học - cơ học giải phẫu và bệnh lý ở phần khoang khớp (gồm xương dưới sụn và màng hoạt dịch và khoang giữa các thân đốt sống).
Người ta thường coi thoái hóa khớp là bệnh lý do hậu quả của quá trình tích tuổi và sự chịu lực tác động thường xuyên lên khớp. Thoái hóa khớp gây đau và biến đổi cấu trúc khớp dẫn đến tàn phế làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và còn là gánh nặng cho kinh tế gia đình và toàn bộ xã hội. Thoái hóa khớp nếu được chẩn đoán sớm và điều trị sớm có thể làm chậm phát triển của bệnh, giảm triệu chứng đau đớn, giúp duy trì cuộc sống hoạt động.
1.2. Đặc điểm dịch tễ học 
Thoái hóa khớp (THK) là bệnh mạn tính thường gặp nhất ở người trung niên và người có tuổi, xảy ra ở mọi chủng tộc, mọi thành phần của xã hội, ở tất cả các nước và phụ nữ nhiều hơn nam giới.
Thống kê của WHO cho thấy có 0,3 - 0,5% dân số bị bệnh lý về khớp thì trong đó có 20% bị thoái hóa khớp. ở Mỹ: 80% trên 55 tuổi bị thoái hóa khớp. ở Pháp: thoái hóa khớp chiếm 28% số bệnh về xương khớp. ở Việt Nam: thoái hóa khớp chiếm 10,41% các bệnh về xương khớp.
− Có sự liên quan chặt chẽ giữa thoái hóa khớp và tuổi tác:
+ 15 - 44 tuổi: 5% người bị thoái hóa khớp.
+ 45 - 64 tuổi: 25 - 30% người bị thoái hóa khớp.
+ Trên 65 tuổi: 60 - 90% người bị thoái hóa khớp.
− Và các vị trí thường bị thoái hóa: 
+ Cột sống thắt lưng: 31,12%
+ Cột sống cổ:13,96%
+ Nhiều đoạn cột sống:7,07%
+ Gối:12,57%
+ Háng:8,23%
+ Các ngón tay:3,13%
+ Riêng ngón tay cái:2,52%
+ Các khớp khác:1,97%

VIÊM KHỚP DẠNG THẤP

Mục tiêu 
1. Trình bày được định nghĩa và những yếu tố dịch tễ học của bệnh viêm khớp dạng thấp (VKDT).
2. Trình bày được nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của VKDT.
3. Chẩn đoán được VKDT theo YHHĐ và các bệnh cảnh lâm sàng YHCT.
4. Trình bày được những nguyên tắc điều trị theo YHHĐ &YHCT.
5. Trình bày được phương pháp điều trị của từng thể bệnh của VKDT theo YHCT.
6. Giải thích được cơ sở lý luận của việc điều trị VKDT theo YHCT. 
1. Đại cương 
1.1. Định nghĩa 
Viêm khớp dạng thấp là một bệnh mạn tính, được coi là một bệnh tự miễn quan trọng thứ hai trong nhóm các loại bệnh tự miễn (sau bệnh lupus đỏ hệ thống) và là bệnh quan trọng nhất trong nhóm bệnh khớp do thấp.
1.2. Đặc điểm dịch tễ học 
1.2.1. Tần suất mắc bệnh 
a. Tỷ lệ mắc bệnh (prevalence)
Theo WHO (1992) tỷ lệ mắc bệnh chung là 0,5 - 3% dân số thế giới từ 15 tuổi trở lên; tỷ lệ này có thể lên đến 5% tùy chủng tộc như:
Tỷ lệ bệnh thấp hơn 0,5% ở người Nhật và Trung Quốc. Đặc biệt chỉ 0,1% quần thể người da đen ở Nam Phi và 0,18% ở Tây Bắc Hy Lạp. Tỷ lệ mắc bệnh cao hơn 5% ở quần thể người da trắng và các bộ lạc da đỏ ở Bắc Mỹ.
Tỷ lệ mắc bệnh theo tuổi 0,3% ở người dưới 35 tuổi và đến trên 10% ở người trên 65 tuổi.
Tỷ lệ mắc bệnh ở phụ nữ cao hơn hẳn ở nam giới (tỷ lệ nam/nữ là 1/2,5). ở lứa tuổi dưới 60, tỷ lệ này là 1/5 - 6, nhưng trên 65 tỷ lệ này chỉ là 1/2.
ở nước ta, theo nghiên cứu của các tỉnh phía Bắc, tỷ lệ này là 0,5% dân số và chiếm 20% số bệnh nhân khớp đến điều trị tại bệnh viện.
b. Tỷ lệ mới mắc bệnh (incidence)
Hàng năm có khoảng 700 - 750 người mới mắc bệnh VKDT trên 1 triệu dân số từ 15 tuổi trở lên. Viêm khớp dạng thấp có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng tập trung tới 80% vào lứa tuổi trung niên.
Ngoài ra, các yếu tố dịch tễ cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh như: tình trạng kinh tế, xã hội, các stress tâm lý, và các trạng thái cơ thể như thai nghén, thuốc ngừa thai, mãn kinh …
Có thể nói về mặt dịch tễ học, viêm khớp dạng thấp là bệnh của phụ nữ ở tuổi trung niên, vì 70 - 80% bệnh nhân là nữ và 60 - 70% xuất hiện ở lứa tuổi trên 30.
1.3. Quan niệm bệnh theo y học cổ truyền 
Triệu chứng bệnh lý của VKDT theo YHHĐ nêu trên cũng được mô tả trong phạm vi các chứng của YHCT như:
− Chứng tý: tam tý, ngũ tý.
− Lịch tiết phong, hạc tất phong, bạch hổ lịch tiết phong
Chứng tý là một trong những chứng chủ yếu của YHCTC, tý đồng âm với bí, tức bế tắc lại không thông. Tý vừa được dùng để diễn tả biểu hiện của bệnh như là tình trạng đau, tê, mỏi, nặng, sưngnhức, buốt… ở da thịt, khớp xương; vừa được dùng để diễn tả tình trạng bệnh sinh là sự bế tắc không thông của kinh lạc, khí huyết.

NGUYÊN TẮC CHỌN HUYỆT

Mục tiêu 
1. Trình bày được ba cách chọn huyệt để cấu tạo công thức huyệt (chọn huyệt tại chỗ, chọn huyệt theo lý luận đường kinh, chọn huyệt đặc hiệu) và chỉ định sử dụng của những nguyên tắc này.
2. Trình bày được những cách chọn huyệt theo lý luận đường kinh (theo nguyên - lạc, huyệt du - mộ, huyệt ngũ du, huyệt khích).
3. Nêu được tên và tác dụng điều trị của những huyệt đặc hiệu.
Để điều trị, các nhà châm cứu thường phối hợp nhiều huyệt lại với nhau (còn được gọi là một công thức huyệt). Việc xây dựng công thức huyệt tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc chọn huyệt sau:
− Nguyên tắc chọn huyệt tại chỗ.
− Nguyên tắc chọn huyệt theo lý luận đường kinh. − Nguyên tắc chọn những huyệt đặc hiệu.
I. Chọn huyệt theo nguyên tắc tại chỗ 
Là cách chọn những huyệt ở chỗ đau, và lân cận nơi đau.
Nói chung, mỗi huyệt đều có ba loại tác dụng: tại chỗ, theo đường kinh và toàn thân. Nguyên tắc chọn huyệt tại chỗ là cách vận dụng đặc điểm đầu tiên về tác dụng điều trị của huyệt.
Những ví dụ sau đây là nói về cách chọn huyệt theo nguyên tắc tại chỗ:
− Đau nhức khớp vai: chọn các huyệt kiên ngung, kiên tỉnh, trung phủ.
− Đau đầu vùng trán: chọn các huyệt ấn đường, toản trúc...
− Đau răng: chọn các huyệt giáp xa, địa thương, hạ quan.
Chỉ định: cách chọn huyệt này được sử dụng trong điều trị mọi trường hợp, nhất là đau nhức.
Chọn huyệt theo nguyên tắc tại chỗ 
- “Tại chỗ” được hiểu là nơi có triệu chứng biểu hiện của bệnh.
- Những huyệt được chọn theo nguyên tắc tại chỗ là những huyệt có vị trí ngay tại hoặc lân cận nơi triệu chứng biểu hiện ra.
- Đây là nguyên tắc chọn huyệt phổ biến nhất.
II. Chọn huyệt theo lý luận đường kinh 
Là cách chọn huyệt trên các đường kinh có liên hệ với bệnh và chứng cần điều trị.
− Cách chọn huyệt này dựa trên nguyên tắc kinh mạch đi qua vùng nào thì có tác dụng phòng chống được bệnh tật liên quan đến vùng đó.
− Trên một hoặc những đường kinh có liên hệ đến bệnh chứng cần điều trị, người thầy thuốc châm cứu đặc biệt chú ý đến những huyệt nằm ở những đoạn từ khuỷu tay đến ngón tay và từ đoạn khoeo chân đến ngón chân.
− Các huyệt này thường thuộc các nhóm huyệt nguyên - lạc, khích huyệt, nhóm huyệt ngũ du. Việc chọn những huyệt thuộc những nhóm này phải tuân theo những luật nhất định về phối hợp huyệt.
Dưới đây là những cách chọn huyệt theo nguyên tắc đường kinh
A. CHọN HUYệT NGUYêN - LạC CủA 12 ĐườNG KINH CHíNH
1. Hệ thống nguyên lạc 
Theo học thuyết kinh lạc thì cơ thể con người có 12 đường kinh chính: gồm 6 kinh của tạng (kinh âm) và 6 kinh của phủ (kinh dương).
Mỗi kinh của tạng (kinh âm) đều có quan hệ biểu - lý (bên trong và bên ngoài) với một kinh của phủ (kinh dương) nhất định (ví dụ như: kinh Phế với kinh Đại trường, kinh Can với kinh Đởm, kinh Thận với kinh Bàng quang, kinh Tâm bào với kinh Tam tiêu, kinh Tâm với kinh Tiểu trường, kinh Tỳ với kinh Vị).
Mỗi đường kinh đều có một huyệt nguyên và một huyệt lạc. Sự liên hệ giữa kinh âm và kinh dương nêu trên được thực hiện bằng hệ thống nguyên - lạc.
Khí huyết của một đường kinh A có thể đến đường kinh B (có quan biểu lý tương ứng với nó) thông qua hệ thống nguyên lạc này. Khí huyết của kinh A sẽ đi từ huyệt lạc của kinh A đến huyệt nguyên của kinh B. Ngược lại khí huyết của kinh B sẽ đi từ huyệt lạc của kinh B đến huyệt nguyên của kinh A.
Mối liên hệ nguyên - lạc trên được biểu thị bằng sơ đồ sau:

Hình 10.1. Sơ đồ biểu diễn hệ thống nguyên - lạc

Chủ Nhật, 17 tháng 9, 2017

TÓM TẮT ĐẶC ĐIỂM CHÍNH CÁC HỌ THỰC VẬT

-   Thân và lá phủ đầy lông nhám do có lông che chở đơn bào, mảng lông dày, có mụt và tẩm silic: Vòi voi.
-   Chất thơm: Bạc hà.
-   Cấu tạo cấp 1 nhưng có nhiều bó mạch kín xếp ko thứ tự à thân rất cứng: Cau.
-   Thân rễ à củ: Cói, Ráy (phát triển cộng trụ).
-   Rễ à củ: Rau răm, Hoa tán, Cúc (inulin), Khoai lang, Củ nâu.
-   Lá mọc đối: Sim, Măng rô (cuống hoa có đốt), Cúc (tụ hình hoa/ gốc), Mã tiền, Cà phê, Chùm ớt, Ô rô, Cỏ roi ngựa, Bạc hà (chữ thập).
-   Lá mọc cách hoặc mọc đối: Long não, Dâu tằm, Hoa chuông, Mõm chó.
-   Lá mọc cách hoặc mọc vòng: Trúc đào.
-   Lá mọc cách, mọc đối hoặc mọc vòng: Thầu dầu, Hành.

Thứ Năm, 14 tháng 9, 2017

TÁC ĐỘNG CỘT SỐNG CHỮA CÁC BỆNH THƯỜNG GẶP

Cột sống là một loại cột trụ, có chức năng chống đỡ toàn bộ cơ thể và trọng lực của các vật mà con người bê vác (ở tư thế tĩnh); Đồng thời, cột sống còn phải đảm đương thêm các chức năng vận động như cúi, ngửa, nghiêng, soắn vặn,… Khi ở tư thế động, sức nặng cột sống phải chịu tăng gấp nhiều lần, không chỉ là khối lượng mà là khối lượng nhân với ½ bình phương của tốc độ (động năng = mv2/2). Để thực hiện chức năng vận động, cột sống phải có nhiều đốt, giữa các đốt có đĩa đệm, các đốt liên kết với nhau bởi hệ thống các dây chằng và cơ bắp xung quanh. Cột sống còn chứa đựng tủy sống – là bộ phận của thần kinh trung ương, từ tủy sống có các rễ thần kinh đi ra điều tiết hoạt động của tất cả các cơ quan mà nó chi phối.

Thứ Năm, 7 tháng 9, 2017

Chữa Trị Tận Gốc các Bệnh Về Mạch Máu

Hầu hết những bệnh về mạch máu đều có thể chữa trị tận gốc bằng bài thuốc này. Ngoài ra có thể dùng như một loại đồ uống, giúp ngăn ngừa các bệnh như cảm cúm, cao huyết áp, các bệnh tim mạch…


Dưới đây là cách chế biến phương thuốc:
Nguyên liệu: Nửa trái chanh, hai miếng gừng lớn, ba nhánh tỏi, một bình dấm táo, mật ong vừa đủ dùng.
Tỏi bóc vỏ, gừng thái nhỏ, bỏ vào máy xay sinh tố hoặc cho vào dụng cụ nghiền trộn thành hỗn hợp sền sệt, sau đó dùng vải chắt lấy nước và bỏ bã.
Cho tỏi đã bóc vỏ, nước gừng vào nồi đất, cho thêm nước cốt chanh và dấm táo, đun lửa lớn cho sôi, sau đó vặn nhỏ lửa từ từ đun. Trong khi đun không nên đậy nắp, mà để hơi nước bốc hơi. Đun khoảng nửa tiếng, đến khi thấy lượng nước trong nồi còn khoảng một nửa là được.
Sau khi nước đã nguội bớt thì cho thêm mật ong vào, ngoáy đều. Có thể cho nhiều mật ong một chút cho dễ uống.
Bỏ thành phẩm vào bình thuỷ tinh có nắp đậy, để vào tủ lạnh bảo quản để dùng dần.
Cách dùng:
Mỗi ngày uống một thìa trước bữa sáng. Hầu hết những bệnh về mạch máu đều có thể chữa trị tận gốc bằng phương pháp này. Ngoài ra có thể dùng như một loại đồ uống, giúp ngăn ngừa các bệnh như cảm cúm, cao huyết áp, các bệnh tim mạch…

Không còn một viên sỏi thận nào, mọi độc tố của GAN được thải ra ngoài

Gan là một trong những cơ quan nội tạng đơn lớn và quan trọng nhất của cơ thể, nắm giữ khoảng 13% nguồn cung cấp máu và thực hiện trên 500 chức năng khác nhau như thanh lọc máu khỏi các loại vi khuẩn, chống lại nhiễm trùng trong cơ thể, xử lý các loại thực phẩm cần được tiêu hóa từ ruột non, vô hiệu hóa các chất độc lọt vào cơ thể…Chính vì đảm nhận nhiều chức năng quan trọng của gan như vậy nên cơ quan này dễ bị quá tải và cần hỗ trợ để thanh lọc và phục hồi.

Bí quyết thải độc Gan để sống trường thọ

Các danh y chuyên ngành về gan họ có bí quyết gì để chăm sóc gan của chính mình để bảo vệ sức khỏe của bản thân luôn khỏe mạnh? Hãy xem họ “tiết lộ” các giải pháp cá nhân sau đây.

Danh y đại sư Đường Do Chi, Viện trưởng Viện khoa học Trung y Trung Quốc:

Muốn gan khỏe, hãy cởi mở tấm lòng
Giáo sư Đường Do Chi luôn mang theo vẻ mặt tươi cười trong hầu hết thời gian trong ngày, nội tâm toát lên vẻ hào hứng, thư thái. Ông chia sẻ, mỗi lần vợ ông phàn nàn về điều gì đó không vừa lòng, khi khó khăn không thể giải quyết, ông thường nói rằng:
“Không có vấn đề gì to tát cả, ai cũng có cái khó của mình, chúng ta sẽ giải quyết được thôi”.
Đó cũng là thái độ sống mà giáo sư Chi lựa chọn trong suốt cuộc đời mình, bình tĩnh xử lý mọi tình huống phát sinh trong cuộc sống, dù khó khăn và nguy hiểm đến đâu.
Theo quan niệm của Đông y, gan thích sự vui vẻ và ghét sự nóng giận. Nhiều chuyên gia ví von gan cũng giống như những ngọn cỏ xanh, chỉ thích tự do vươn lên mà không muốn bị chèn ép.
Những nghiên cứu Đông y đều cho rằng, khi tâm trạng vui vẻ thoải mái, gan sẽ làm việc tốt, cân bằng. Khi tâm trạng nóng giận, bực tức, gan sẽ mất cân bằng, nóng gan và tắc nghẽn, trì trệ.

Hạ sốt với khoai tây

Để hạ sốt nhanh chóng không cần thuốc cho trẻ, bạn chỉ cần dùng khoai tây. Trước tiên, rửa sạch 2 củ khoai tây, cắt nhỏ rồi xay nhỏ. Cho bột khoai tây sống vào chiếc tất rồi cho trẻ đeo. Với cách làm này, cơn sốt của trẻ sẽ hạ nhanh chóng chỉ trong vài phút.

TỐNG SỎI THẬN RA NGOÀI BẰNG NƯỚC CỐT CHANH - BIA - DẦU ÔLIU

Nguyên liệu
– 100ml nước cốt chanh.
– 100ml dầu oliu, bạn sẽ dễ dàng tìm mua dầu oliu tại các siêu thị trên toàn quốc.
– 100ml bia.
Thực hiện
Trộn tất cả nguyên liệu với nhau trong một hũ (chai) thủy tinh.
Hỗn hợp này giúp tống sỏi không cần mổ.
Cách uống
Mỗi ngày, sau khi ngủ dậy, hãy uống 50ml hỗn hợp vừa rồi.
Lưu ý:
– Nên lắc đều trước khi uống.
– Uống trước bữa ăn 30 phút.
– Hỗn hợp còn dư, đóng chặt nắp, bảo quản nơi thoáng mát, tránh ánh sáng trực tiếp.
Liệu trình trong bao lâu?
Thực hiện liên tục trong vòng 6 ngày, sỏi trong thận sẽ dần được tống ra ngoài theo đường tiểu.
Rất nhiều người áp dụng nghiêm túc theo chỉ dẫn trên và tiêu được sỏi ra ngoài.
Rất nhiều người đã áp dụng và thành công.
Tuy nhiên, xin hãy lưu ý, phương pháp này chỉ có tác dụng với sỏi có kích thước dưới 15mm. Hãy kết hợp với soi âm để kiểm tra kích thước sỏi bạn nhé.

CHỮA KHỎI HẲN BỆNH KHỚP BẰNG CÀ TÍM

Nếu bạn hoặc người thân đang phải chống chọi với những cơn đau khớp quằn quại. Hãy thử phương pháp hoàn toàn tự nhiên này ngay hôm nay.
Dưới đây là tất cả những gì bạn cần thực hiện:
Chuẩn bị:
1 quả cà tím cỡ vừa
1 lít nước


CÔNG DỤNG BẤT NGỜ CỦA CÂY THÙ LÙ (CÂY TẦM BÓP)

Cây Thù Lù hay thường gọi tên là Cây Tầm Bóp. 
Tầm bóp là loại cây dại mọc hoang nhiều ở các vùng quê, gắn liền với tuổi thơ của nhiều người. Nhưng rất ít người biết được công dụng chữa bệnh tuyệt vời của loại cây này.

CÔNG DỤNG THẦN KỲ CỦA CỦ CẢI TRẮNG

Chắc chắn bạn đã quá quen thuộc với củ cải trắng, tuy nhiên, bạn sẽ phải thốt lên khi biết các tác dụng chữa bệnh thần kỳ của loại rau củ thông dụng này.
Mặc dù có đến 92% là nước, nhưng các thành phần còn lại như protit, gluxit, celluloz lại được tận dụng trong các bài thuốc dưới đây.

BẤM HUYỆT CHỮA ĐAU CỔ GẤY

Huyệt Hậu khê : Có một huyệt vị có thể giải quyết vấn đề đau đốt sống cổ, tác động tốt lên vùng vai gáy, đó là huyệt hậu khê ở kinh tiểu trường.

TỎI & CHANH QUÉT SẠCH MỠ MÁU CƠ THỂ

Đây một bài thuốc dân gian lâu đời của Nga chữa bệnh mỡ máu cao rất hiệu quả. Cách làm như sau:
Nguyên liệu: 4 củ tỏi, 4 quả chanh, 3 lít nước sôi để nguội.

BÀI THUỐC TRỊ BỆNH GOUT DÂN GIAN - CUA ĐỒNG

Bài thuốc chữa bệnh gout như sau:
-1 Con cua đồng còn sống (không phân biệt đực cái): nếu mua ngoài chợ về rửa sạch, không cho tiếp xúc với nước khoảng 1 đến 2 tiếng. Mục đích là làm cho con cua sẽ tiết chất dịch trong miệng và trao đổi nước nhiều hơn.
-Rượu gạo có nồng độ từ 35-40 độ nguyên chất (không sử dụng loại rượu pha cồn công nghiệp) với nước với tỉ lệ: 1 rượu – 5 nước (sử dụng cái muỗng hay thìa) làm sao cho vừa đủ dùng.
-Lấy 1 cái tô có cạnh bè ra để dễ dàng dùng bàn tay đè lên mai cua đồng ngâm với hỗn hợp nước rượu ngập đến miệng con cua đồng.

Thứ Bảy, 2 tháng 9, 2017

Rau má - Đói ăn rau, đau uống thuốc

Trong cuộc sống hàng ngày ít ai biết được rằng: Rau má - thứ rau mà nhiều người vẫn coi là loài rau mọc hoang dã nơi gốc ruộng, bờ đường ấy lại là một dược thảo rất quý, chữa được nhiều bệnh khá hữu hiệu...

RAU MA

Thế nào là người có thể chất hàn và nhiệt

Theo quan điểm của triết học, tâm lý học và Y học cổ truyền phương Đông, việc phân định thể chất của con người là hàn tính hay nhiệt tính có ý nghĩa hết sức quan trọng. Bởi lẽ, chỉ có trên cơ sở hiểu rõ thể chất của mình là hàn hay nhiệt, người ta mới có thể lựa chọn môi trường sống, thay đổi điều kiện sinh hoạt và ăn uống, thực hiện các biện pháp dự phòng tích cực bệnh tật... một cách hợp lý và có hiệu quả. 
Trên thực tế, thể chất hàn nhiệt của mỗi người thường không giống nhau, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như di truyền, điều kiện sinh hoạt, làm việc, ăn uống..., được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu về sinh lý, bệnh lý và tâm lý. Nhưng tựu trung lại cũng không nằm ngoài 7 loại hình chính là: Thể hàn, thể rất hàn, thể nhiệt, thể rất nhiệt, thể bình hoà, thể thiên hàn và thể thiên nhiệt. Để phân định các loại hình này, người xưa thường chỉ căn cứ vào các dữ liệu thu được sau khi tiến hành vọng (nhìn), văn (nghe, ngửi), vấn (hỏi) và thiết (sờ, bắt mạch). Tuy nhiên, hiện nay, các nhà Y học cổ truyền hiện đại đã xây dựng các chỉ tiêu cơ bản để phân định không chỉ dựa trên cơ sở lý luận của Y học cổ truyền, bao gồm học thuyết âm dương cân bằng, quan niệm chỉnh thể và nguyên tắc biện chứng thi trị mà còn tham chiếu thêm một số chỉ tiêu về sinh lý, sinh hóa, tâm lý của Y học hiện đại. Tổng cộng có 22 chỉ tiêu cơ bản là thể hình, tính cách, cảm giác hàn nhiệt, cảm giác khát, tình trạng ăn uống, sắc mặt, mạch, lưỡi, đại tiện, tiểu tiện, trạng thái tinh thần, thể lực, mồ hôi, tiếng nói, khả năng tình dục, huyết áp, số lượng bạch cầu, số lượng hồng cầu, số lượng tiểu cầu, huyết sắc tố, mỡ máu và đường máu. Dựa trên những chỉ tiêu này, 7 loại hình có nội dung cơ bản như sau :

Ăn uống & thảo dược - phương pháp hữu hiệu trong điều trị bệnh thống phong

Bệnh thống phong trong Đông y tương ứng với bệnh gút trong Tây y. Y học hiện đại cho rằng gút là một bệnh khớp do rối loạn chuyển hóa làm tăng axit uric trong máu. Đông y cho rằng thống phong là bệnh do tà khí bên ngoài như phong, hàn, thử, thấp xâm phạm cơ thể làm khí trệ, huyết ứ, kinh mạch bất thông…
Điều trị bệnh thống phong bằng thảo dược
Bệnh thống phong thuộc phạm trù chứng Tý trong Đông y và chia ra nhiều thể bệnh, căn cứ vào các tà khí: phong, hàn, thấp, khí.
- Chứng hành tý (phong khí nhiều hơn)
Biểu hiện: Thân mình đau nhức, đau chạy khắp các khớp, mạch phù.
Phép trị: Chủ yếu là khu phong, tán hàn, trừ thấp. 
Bài thuốc: Phòng phong thang: Phòng phong, Đương quy, Phục linh, Thổ phục linh, Hạnh nhân, Tần giao, Hoàng cầm, Cát căn, Quế chi, Khương hoạt, Cam thảo, Độc hoạt.

ĐOÁN BỆNH QUA MẶT - MẮT - MÔI - LƯỠI

Mặt
Sắc mặt bóng mượt sáng tươi
Là sức khỏe tốt, trong người yên an
Sắc mặt thấy ánh nhợt vàng
Là tỳ hư thấp ở phần trong thân
Mặt trắng nhợt, máu hư hàn
Mặt đỏ là nhiệt toàn phần thể thân
Da mặt thấy sắc nhợt xanh
Là phong ứ huyết do hàn sinh ra.

MẠCH HỌC THEO ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH

Một trong bốn phương pháp để chẩn bệnh của người xưa là Vọng, Văn, Vấn, Thiết - nghĩa là trông sắc thái bên ngoài của người bệnh; nghe hơi thở, tiếng nói của người bệnh; hỏi triệu chứng, lịch sử bệnh và bắt mạch cho người bệnh để biết bệnh ở biểu hay lý, hàn hay nhiệt, hư hay thực, âm hay dương… Vị trí bắt mạch Y học cổ truyền và y học hiện đại đều thống nhất rằng: Vị trí bắt mạch chính là thốn khẩu. Sách Nam Kinh nói rằng: “Thốn khẩu là chỗ tập trung tất cả các mạch. Nó là động mạch của Kinh thủ Thái âm (tâm) mà cũng là chỗ bắt đầu và kết thúc của mạch Thốn, Quan, Xích; là điểm chung của ngũ tạng, lục phủ; là chỗ mạch đi nông nhất. Chính vì vậy “thốn khẩu” được lấy làm nơi bắt mạch”. 

BÀI ĐƯỢC QUAN TÂM NHIỀU

PHƯƠNG PHÁP VÀ CHẨN ĐOÁN ĐIỀU TRỊ ĐỘC ĐÁO CỦA YHCT

  Phương pháp chẩn đoán và điều trị độc đáo Y học cổ truyền Việt Nam sử dụng nhiều phương pháp chẩn đoán và điều trị độc đáo, mang tính toàn...

Kiến thức Đông Y